Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIN HỌC Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề Thế giới ngày nay đang chứng kiến những biến đổi nhanh chóng trong mọi hoạt động kinh tế - văn hóa - xã hội nhờ những thành tựu của công nghệ thông tin. Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế thì nguồn nhân lực có chuyên môn cao, tay nghề vững vàng, ý thức lao động cao, Tin học tốt lại càng cần thiết và quan trọng. Chính vì thế mà việc phát triển một cách toàn diện từ kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng sống và giao tiếp cho mỗi cá nhân là rất quan trọng mà chỉ có giáo dục và đào tạo mới làm được.
Trên thế giới, các nước có nền giáo dục phát triển chú trọng đến việc ứng dụng công nghệ thông tin cũng như Tin học hóa vào các lĩnh vực khoa học kỹ thuật, lĩnh vực đời sống xã hội, đặc biệt là ứng dụng khoa học công nghệ vào giáo dục. Úc: tháng 3 năm 2000, Hội đồng Bộ trưởng đã ủng hộ hướng đi được trình bày trong tài liệu “ Cơ cấu chiến lược cho nền kinh tế thông tin” gồm hai mục tiêu giáo dục trường học bao quát cho nền kinh tế thông tin. Đó là: Một là, tất cả học sinh tốt nghiệp phổ thông đều ứng dụng được công nghệ thông tin và ý thức được tác động của công nghệ thông tin đối với xã hội. Hai là: Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học và quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học tạo môi trường học tập cho học sinh.
Nhật Bản: ba mục tiêu phổ cập Tin học của Chính phủ được nêu trên các website của Bộ Giáo dục–Văn hóa–Thể thao– Khoa học Công nghệ Nhật Bản (http://www.jp) và trung tâm Trung tâm Giáo dục Tin học Nhật Bản (http://www.jp), theo đó Tin học trở thành môn học chính thức trong 7 chương trình giảng dạy phổ thông từ năm 2002 đối với cấp tiểu học (6 năm) và tiểu học (3 năm), từ năm 2003 đối với cấp trung học phổ thông (3 năm). Singapor: năm 1981, Chính phủ thông qua một đạo luật về Tin học Quốc gia quy định ba nhiệm vụ do Ủy ban máy tính Quốc gia theo dõi, chỉ đạo công tác: Một là, thực hiện Tin học hóa mọi công việc hành chính và hoạt động của Chính phủ. Hai là, phối hợp Giáo dục và Đào tạo Tin học. Ba là, phát triển và thúc đẩy công nghiệp dịch vụ Tin học.
Trước xu thế đó, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 49/CP ngày 4/8/1993 về “Phát triển công nghệ thông tin ở Việt Nam trong những năm 90”; Chỉ thị 58-CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị về việc đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã chỉ rõ nhiệm vụ trọng tâm của ngành giáo dục là đào tạo nguồn nhân lực về công nghệ thông tin và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin; Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/1/2013 của Trung ương Đảng, khóa XI “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” đã nhấn mạnh: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội”. Môn Tin học cũng như mọi môn học khác, căn cứ vào mục tiêu trên để xác định ra những nhiệm vụ cụ thể của môn học, tổ chức hoạt động đào tạo góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục mà Đảng và Nhà nước đề ra. Chính vì xác định được tầm quan trọng đó nên Nhà nước ta đã đưa môn Tin học vào trong nhà trường và ngay từ Tiểu học, học sinh được tiếp xúc với môn Tin học để làm quen dần với lĩnh vực công nghệ thông tin, tạo nền móng cơ sở ban đầu 8 để học những phần nâng cao trong các cấp tiếp theo.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề này, chúng ta có thể thấy: Những chiếc máy tính thực sự đầu tiên trên thế giới ra đời vào những năm 1950 của thế kỷ trước. Các máy tính điện tử thế hệ đầu tiên sử dụng bóng điện tử và công nghệ Analog. Thời kỳ đó chắc chắn không phải sinh viên nào học chuyên ngành này cũng có thể tiếp cận được những chiếc máy đó. Mỗi máy tính thời kỳ đó to như 1 tòa nhà.
Ngành khoa học liên quan đến máy tính thì xuất hiện trước đó. Vào những năm 70 của thế kỷ trước bắt đầu xuất hiện những máy tính mini (hay còn gọi là mainframe). Các máy tính này nhỏ hơn (như 1 cái bàn nhỏ). Điểm đặc biệt của các máy tính này là bắt đầu có hệ điều hành chạy như 1 phần mềm độc lập.
Thời kỳ này khoa học máy tính đã phát triển rất mạnh trong rất nhiều các trường đại học trên thế giới. Tại Việt Nam các trường đại học lớn như trường Bách khoa Hà Nội đã có các khoa toán tính, toán điều khiển. Máy tính mainframe IBM đã có trong 1 số cơ sở tại Sài Gòn. Thời điểm quyết định nhất là vào đầu những năm 1980 khi chiếc máy tính PC đầu tiên ra đời với hệ điều hành DOS.
Lần đầu tiên mỗi người dân được nhìn thấy và có thể sử dụng các máy tinh của riêng mình. Cũng vào thời kỳ này khoa học máy tính đã phát triển rực rỡ, các hệ thống mạng máy tính ra đời đã kết nối tất cả các máy tính lớn trên toàn thế giới. Thời kỳ này cũng xuất hiện những ngôn ngữ lập trình bậc cao phù hợp cho việc dạy cho học sinh phổ thông như Basic, Algol, Pascal, C. Và người ta bắt đầu nghĩ đến việc đưa Tin học xuống nhà trường phổ thông.
Tại Việt Nam học sinh các lớp chuyên toán bắt đầu được làm quen và học lập trình Pascal. Năm học 1990-1991, cùng với việc thay sách giáo khoa cũ bằng sách giáo khoa cải cách giáo dục, một số kiến thức Tin học đã được đưa vào chương trình môn Toán lớp 10 trung học phổ thông trong một chương có tên “Khái 9 niệm về Tin học và thuật toán” với 15 tiết học bắt buộc. Ban đầu chỉ có lập trình Pascal, nhưng sau đó Bộ đã nhanh chóng mở rộng ra phần kiến thức Hệ điều hành, và sau đó bổ sung phần Cơ sở dữ liệu, Mạng máy tính và Soạn thảo văn bản. Từ năm học 1993-1994, khi tiến hành thí điểm phân ban, Tin học được dạy ở các trường phân ban cho cả 3 khối lớp 10, 11 và 12 ở cấp trung học phổ thông.
Đầu những năm 2000, học sinh cấp Trung học phổ thông của Việt Nam chính thức được học môn Tin học, không muộn hơn so với thế giới. Ngay sau đó, nhà xuất bản giáo dục cấp tốc viết Sách giáo khoa và bắt đầu từ những năm 2006-2007, học sinh cấp Trung học cơ sở, Tiểu học bắt đầu được học môn Tin học (tự chọn) với các module kiến thức tương đối rời rạc như Làm quen máy tính, hệ điều hành, soạn thảo văn bản, phần mềm học tập, lập trình Pascal, mạng Internet và trình chiếu. Cũng vào những năm 2007, Sách giáo khoa Tin học cho Tiểu học ra đời như với các module kiến thức như làm quen máy tính, tập chuột, học gõ bàn phím bằng 10 ngón, học vẽ, học soạn thảo văn bản, phần mềm học tập, LOGO,. Nội dung chương trình môn Tin học hiện nay được dạy theo bộ sách “Cùng học Tin học” Quyển 1, 2, 3 do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định.
Căn cứ điều kiện của nhà trường, môn Tin học với vai trò là môn học tự chọn được đưa vào giảng dạy cho học sinh khối lớp 3 đến lớp 5 tương ứng với sách giáo khoa Tin học Quyển 1, 2, 3. Như vậy cho đến hiện nay môn Tin học đã phủ kín toàn bộ các cấp học từ Tiểu học đến Trung học phổ thông nhưng vẫn là những module rời rạc, không liên thông vì chưa là môn học bắt buộc với cấp 1 và 2; riêng ở cấp tiểu học, học sinh được làm quen với Tin học từ năm học lớp 3 hoặc lớp 4 tùy theo điều kiện của nhà trường. Theo định hướng của Bộ giáo dục và Đào tạo đến năm học 2021-2022 sẽ đưa môn Tin học trở thành môn học chính khóa trong chương trình giáo dục phổ thông mới. Các khái niệm cơ bản 1.
Khái niệm Tin học, thông tin, công nghệ thông tin, ứng dụng công nghệ thông tin 1. Tin học “Tin học là khoa học nghiên cứu về cấu trúc và tính chất của thông tin, về thu thập, lưu trữ, xử lý và truyền tin”.5] Tin học ngay khi mới ra đời đã phát triển theo 2 bộ phận hợp thành chủ yếu: bảo đảm toán học, bảo đảm thuật toán, bảo đảm chương trình, gọi là phần mềm; thiết bị tính toán, thiết bị lưu trữ xử lý và thiết bị truyền tin, gọi là phần cứng. Bản thân trong mỗi phần mềm, phần cứng lại có các lĩnh vực chuyên nghiên cứu lý thuyết (nghiên cứu cơ bản), các lĩnh vực chuyên nghiên cứu ứng dụng, thiết kế, chế tạo. Thông tin Thông tin là khái niệm được hiểu đa dạng.
Thông tin được xét trên 2 mặt: định lượng và định tính. Về định lượng, thông tin được coi là thông báo, có liên quan với khả năng thông qua của kênh truyền, phụ thuộc vào nguồn thông báo, nơi nhận tin và vào sự nhiễm tin. Về định tính, thông tin là đo độ trật tự, đo mức độ có tổ chức của hệ thống. Để xử lý thông tin ta có thể dùng tiếng nói, chữ viết hay phương tiện tính toán hiện đại [19, tr.
Công nghệ thông tin Công nghệ thông tin là thuật ngữ dùng để chỉ ngành khoa học và công nghệ liên quan đến thông tin và quá trình xử lý thông tin. Theo bách khoa toàn thư mở Wikipedia: Công nghệ thông tin (Information Technology - IT) là ngành khoa học ứng dụng công nghệ quản lý và xử lý thông tin. Đó là ngành sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, xử lý, truyền tin và thu thập thông tin.