Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA THỰC THI CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƢỜI CÓ CÔNG 1. Chính sách và chính sách đối với ngƣời có công 1. Chính sách 1. Khái niệm Thuật ngữ chính sách đƣợc sử dụng rộng rãi trên sách báo, trên các phƣơng tiện thông tin đại chúng và trong đời sống xã hội nhƣ chính sách kinh tế, chính sách xã hội, có thể thấy chính sách đƣợc hiểu theo nhiều cách khác nhau và đƣợc thể hiện trong các sách cũng nhƣ những tài liệu.
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam (1995), “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đƣờng lối, nhiệm vụ. Chính sách đƣợc thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phƣơng hƣớng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đƣờng lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa…” [24, tr.475] Từ điển Hành chính (2003) đã đƣa ra khái niệm: “Chính sách là chiến lƣợc và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đƣờng lối chính trị chung và tình hình thực tế” [8, tr. Theo từ điển giải thích thuật ngữ hành chính (2002), “Chính sách là sách lƣợc và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đƣờng lối chính trị chung và tình hình thực tế” [23, tr.
Theo Giáo trình Hoạch định và phân tích chính sách công (2008) “Chính sách là những hành động ứng xử của chủ thể với các hiện tƣợng tồn tại trong quá trình vận động phát triển nhằm đạt đƣợc mục tiêu nhất định” [10, tr. Nhƣ vậy chính sách đƣợc tiếp cận dƣới nhiều góc độ khác nhau, đó có thể là chiến lƣợc, sách lƣợc, kế hoạch hay chuẩn tắc cụ thể và tác giả chọn 12 cách tiếp cận theo hƣớng “Chính sách là những hành động ứng xử của chủ thể với các hiện tượng tồn tại trong quá trình vận động phát triển nhằm đạt được mục tiêu nhất định”. Phân loại Chính sách đƣợc xem nhƣ công cụ quản lý quan trọng của Nhà nƣớc đối với mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội, là những hành động ứng xử của Nhà nƣớc với các vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng do đó chúng rất đa dạng, chính sách công phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau, trong đó phổ biến một số cách phân loại sau: Căn cứ theo chủ thể ban hành gồm có: Chính sách của Trung ƣơng ban hành: Gồm những chính sách do Quốc hội, Chính phủ, liên Bộ và các Bộ ban hành. Những chính sách này có tác dụng điều chỉnh những mối quan hệ phát sinh trên phạm vi toàn quốc gia, có ảnh hƣởng đến lợi ích của nhiều địa phƣơng, nhiều nhóm dân cƣ khác nhau trong xã hội [16, tr.
Chính sách do địa phƣơng ban hành: Là những chính sách do các cấp chính quyền địa phƣơng đề ra, nhằm giải quyết những vấn đề phát sinh trong phạm vi địa phƣơng đó [16, tr. Căn cứ theo lĩnh vực tác động chính sách có thể chia thành một số loại nhƣ sau: Chính sách kinh tế, chính sách xã hội, chính sách văn hóa, chính sách đối nội, chính sách đối ngoại [16, tr. Chính sách kinh tế: Là những chính sách điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong lĩnh vực kinh tế nhằm tạo ra những động lực phát triển kinh tế. Chính sách xã hội: Là những chính sách điều tiết các mối quan hệ xã hội làm cho xã hội phát triển theo hƣớng công bằng, dân chủ, văn minh.
13 Chính sách văn hóa: Là những chính sách phát triển nền văn hóa với tƣ cách là nền tảng tinh thần của xã hội, hình thành hệ giá trị và chuẩn mực xã hội mới phù hợp với truyền thống, bản sắc dân tộc và yêu cầu của thời đại. Chính sách đối nội: Là những chính sách hƣớng vào việc tăng cƣờng tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nƣớc, bảo vệ vững chắc độc lập, an ninh, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nƣớc, tạo điều kiện cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nƣớc. Chính sách đối ngoại: Là những chính sách hƣớng dẫn và điều tiết các quan hệ đối ngoại của nhà nƣớc với các quốc gia trên thế giới. Căn cứ theo thời gian ban hành có thể phân thành: Chính sách dài hạn, chính sách ngắn hạn, chính sách trung hạn [16, tr.
59] Chính sách dài hạn: Là những chính sách đƣợc áp dụng lâu dài, điều tiết những mối quan hệ lớn trong đời sống kinh tế - xã hội, nhằm tạo sự phát triển ổn định trong lĩnh vực thực thi chính sách. Chính sách trung hạn: Là những chính sách đƣợc áp dụng trong khoảng thời gian từ 3 đến 5 năm. Những chính sách này tập trung vào vấn đề có ảnh hƣởng không nhỏ đến đời sống kinh tế - xã hội nhƣng có thể giải quyết trong một thời gian nhất định. Chính sách ngắn hạn: Là những chính sách đƣợc áp dụng trong một khoảng thời gian không lâu (dƣới 2 năm) đối với những vấn đề phát sinh trong có thể giải quyết tƣơng đối nhanh chóng.
Chính sách đối với ngƣời có công 1. Người có công Khái niệm Mặc dù Pháp lệnh ƣu đãi ngƣời có công đƣợc thực hiện từ năm 1995 nhƣng cho tới nay vẫn chƣa có một văn bản pháp luật nào nêu rõ khái niệm ngƣời có công. Ngƣời có công là một khái niệm xuất hiện trong lịch sử đấu 14 tranh giành độc lập và bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ta. Ngay từ những ngày đầu năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi đồng bào hằng năm chọn một ngày để đền ơn đáp nghĩa ghi nhớ tri ân những ngƣời có công lao với Tổ quốc, với nhân dân.
Ngƣời nói: “Thƣơng binh là những ngƣời hy sinh gia đình, hy sinh xƣơng máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào. Vì lợi ích của Tổ quốc, của đồng bào, các đồng chí đã chịu ốm yếu, què quặt. Vì vậy, Tổ quốc, đồng phải biết ơn, phải giúp đỡ những ngƣời con anh dũng ấy…Ngày 27 tháng 7 là dịp để đồng bào tỏ lòng hiếu nghĩa, bác ái và tỏ lòng yêu mến thƣơng binh”. Theo nghĩa rộng, ngƣời có công là những ngƣời đã tự nguyện hiến dâng cuộc đời mình cho việc đại nghĩa, cho sự nghiệp của đất nƣớc.
Họ có những đóng góp, những cống hiến xuất sắc phục vụ cho lợi ích của đất nƣớc, của dân tộc. Ngƣời có công gồm những ngƣời không phân biệt tôn giáo, tín ngƣỡng, dân tộc, nam nữ tuổi tác, miễn là họ có những hành động xuất sắc có lợi cho dân tộc [1, tr. Theo nghĩa hẹp, khái niệm ngƣời có công để chỉ những cá nhân, không phân biệt tôn giáo, tín ngƣỡng, dân tộc, nam nữ,…có những đóng góp, cống hiến xuất sắc trong thời kì Cách mạng tháng Tám năm 1945, trong các cuộc kháng chiến dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, đƣợc các cơ quan nhà nƣớc, tổ chức có thẩm quyền công nhận [1, tr. Nhƣ vậy, tiêu chí cơ bản để xác định ngƣời có công đó là phải có đóng góp, cống hiến xuất sắc vì lợi ích dân tộc.
Những đóng góp, những cống hiến của họ có thể là trong các cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho Tổ quốc và cũng có thể là trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nƣớc. Từ những phân tích nêu trên, khái niệm ngƣời có công đƣợc hiểu là: “Người có công là người không biệt dân tộc, tôn giáo, giới tính, tuổi tác,…có những cống hiến, sức lực, tài năng, trí tuệ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ 15 Tổ quốc, độc lập dân tộc hay đem lại thành tích vẻ vang cho đất nước được cơ quan có thẩm quyền công nhận theo quy định của pháp luật” [6, tr. Ở nƣớc ta, Theo khoản 1 Điều 2 Pháp lệnh Ƣu đãi ngƣời có công với cách mạng số 04/2012/UBTVQH13 sửa đổi bổ sung một số điều của Pháp lệnh ƣu đãi ngƣời có công với cách mạng thì ngƣời có công bao gồm các đối tƣợng: Ngƣời hoạt động cách mạng trƣớc ngày 01 tháng 01 năm 1945, Ngƣời hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, Liệt sĩ, Bà mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng Lực lƣợng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động trong thời kì kháng chiến, Thƣơng binh, ngƣời hƣởng chính sách nhƣ thƣơng binh, Bệnh binh, Ngƣời hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, Ngƣời hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày, Ngƣời hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế, Ngƣời có công giúp đỡ cách mạng. Nhƣ vậy, ở nƣớc ta ngƣời có công không chỉ là ngƣời trực tiếp chiến đấu ở chiến trƣờng mà còn bao gồm những đối tƣợng đã giúp đỡ, cống hiến (ngƣời có công giúp đỡ cách mạng, bà mẹ Việt Nam anh hùng) cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, Pháp lệnh ƣu đãi ngƣời có công chủ yếu điều chỉnh các đối tƣợng theo nghĩa hẹp.
16 Phân loại Người có công Theo khoản 1 Điều 2 Pháp lệnh Ƣu đãi ngƣời có công với cách mạng số 04/2012/UBTVQH13 sửa đổi bổ sung một số điều của Pháp lệnh ƣu đãi ngƣời có công với cách mạng thì ngƣời có công bao gồm các đối tƣợng [28]. Một là, ngƣời hoạt động cách mạng trƣớc ngày 01 tháng 01 năm 1945 Ngƣời hoạt động cách mạng trƣớc ngày 01 tháng 01 năm 1945 là ngƣời đƣợc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận đã tham gia tổ chức cách mạng trƣớc ngày 01 tháng 01 năm 1945. Hai là, ngƣời hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 Ngƣời hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 là ngƣời đƣợc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận đứng đầu một tổ chức quần chúng cách mạng cấp xã hoặc thoát ly hoạt động cách mạng kể từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945.