Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ QUY HOẠCH HỆ THỐNG CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP 1. Một số vấn đề chung về quy hoạch hệ thống các cơ sở giáo dục nghề nghiệp 1. Những khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về quy hoạch Quy hoạch là việc phân bố, sắp xếp các hoạt động và các yếu tố sản xuất, dịch vụ và đời sống trên một địa bàn lãnh thổ (quốc gia, vùng, tỉnh, huyện) cho một mục đích nhất định trong một thời kì trung hạn, dài hạn (có chia các giai đoạn) để cụ thể hoá chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trên lãnh thổ theo thời gian và là cơ sở để lập các kế hoạch phát triển.
Có nhiều loại quy hoạch ở nhiều cấp độ, phạm vi và lĩnh vực khác nhau, như quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội một vùng lãnh thổ, quy hoạch phát triển một ngành kinh tế - kĩ thuật; quy hoạch cán bộ; quy hoạch đô thị; quy hoạch xây dựng các khu công nghiệp của một tỉnh. Quy hoạch thường được xây dựng dựa trên chiến lược phát triển của một vùng lãnh thổ hay một ngành, một lĩnh vực theo thời gian và là cơ sở để xây dựng các kế hoạch phát triển ngắn hạn, trung hạn. Việc xây dựng quy hoạch phải dựa trên những ý đồ chiến lược rõ ràng; sự tính toán khoa học, hợp lí những điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội; việc sử dụng có hiệu quả các yếu tố nguồn lực. Do vậy, chất lượng của quy hoạch phụ thuộc rất lớn vào tầm nhìn chiến lược của các cấp và những người có thẩm quyền, công tác điều tra cơ bản và khả năng dự báo về xu hướng phát triển trong tương lai.
Chính vì vậy, có nhiều cách hiểu về quy hoạch, cụ thể như sau: Theo từ điển Tiếng Việt: “Quy hoạch là sự bố trí sắp xếp toàn bộ theo một trình tự hợp lý trong từng thời gian làm cơ sở cho việc lập kế hoạch 17 dài hạn”. Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Quy hoạch là sự phân bố và sắp xếp các hoạt động và các yếu tố sản xuất, dịch vụ và đời sống trên một địa bàn lãnh thổ (quốc gia, vùng, tỉnh, huyện…) cho một thời kỳ trung hạn, dài hạn (có chia các giai đoạn) để cụ thể hóa chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trên lãnh thổ, theo thời gian và là cơ sở để lập kế hoạch phát triển” Theo PGS. Nguyễn Bá Minh “Quy hoạch là sự bố trí sắp xếp, phát triển sự vật và hiện tượng theo những mục tiêu chức năng xác định” trong bài giảng “Dự báo quy hoạch và kế hoạch giáo dục” của trường đại học Vinh. Theo quan điểm của Viện kế hoạch dài hạn và phân bố lực lượng sản xuất thì: “Quy hoạch tổng thể là luận chứng khoa học về mục tiêu, phương hướng, giải pháp, bước đi của các chương trình lớn và sự bố trí chiến lược trên địa bàn lãnh thổ trong phát triển dài hạn của một nước, một ngành, một vùng làm căn cứ cho hoạch định các chính sách, kế hoạch và những dự án cụ thể” Quy hoạch có nhiệm vụ quan trọng trong việc thực hiện đường lối, chiến lược phát triển, tăng cường cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc ra quyết định, hoạch định các chính sách phục vụ cho việc xây dựng kế hoạch đồng thời có nhiệm vụ điều chỉnh công tác chỉ đạo trên cơ sở những tiên đoán của quy hoạch.
Do vậy, khi nghiên cứu quy hoạch ta phải đặt nó trong mối quan hệ với một số khái niệm có liên quan chứ không xem xét một cách độc lập. Khái niệm về giáo dục nghề nghiệp Nghề là một hình thức phân công lao động, nó được biểu thị bằng những kiến thức lý thuyết tổng hợp và thói quen thực hành để hoàn thành những công việc nhất định. Những công việc được sắp xếp vào một nghề là những công việc đòi hỏi kiến thức lý thuyết tổng hợp như nhau, thực hiện trên những máy móc, thiết bị, dụng cụ tương ứng như nhau, tạo ra sản phẩm thuộc về cùng một dạng. 18 Nghề là một dạng xác định của hoạt động trong hệ thống phân công lao động của xã hội, là toàn bộ kiến thức, kỹ năng mà một người lao động cần có để thực hiện các hoạt động xã hội nhất định trong một lĩnh vực lao động.
Theo Từ điển Tiếng Việt “Nghề là công việc chuyên làm theo sự phân công lao động xã hội”. Ta thường nghe nói nghề sư phạm, nghề kế toán, nghề thợ cơ khí. nghề không đơn giản chỉ để kiếm sống mà còn là con đường để ta thể hiện và khẳng định giá trị của bản thân. Mặc dù, khái niệm nghề được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau song ta nhận thấy một số nét đặc trưng nhất định, đó là công việc chuyên môn, là phương tiện để sinh sống, là hoạt động lao động của con người, làm thuê cho người khác hoặc làm cho bản thân, phù hợp với yêu cầu xã hội và nhu cầu của bản thân.
Vậy, nghề - là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó người lao động được đào tạo, có tri thức, kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần để đáp ứng nhu cầu của xã hội. Nhà giáo ưu tú Đỗ Xuân Cẩm từng viết “Ai cũng biết nghề nào thì nghiệp đó. Có chuyên môn thì sẽ có nghề tương xứng, nhưng có nghề chưa hẳn đã có nghiệp và có nghề rồi mà không có nghiệp thì nghề cũng không tồn tại một cách suôn sẻ được”. Nói tóm lại, “nghề nghiệp” trong xã hội không phải là một cái gì cố định, cứng nhắc.
Ta có thể hiểu khái niệm về giáo dục nghề nghiệp như sau: Giáo dục nghề nghiệp theo quan điểm giáo dục toàn diện, là đảm bảo người học có kiến thức kỹ thuật hệ thống và vững chắc, đồng thời có kỹ năng cơ bản diện rộng, trên cơ sở đó tạo khả năng thích ứng cao với những biến đổi kỹ thuật và công nghệ. Giáo dục nghề nghiệp là một bộ phận của giáo dục nói chung, được xem là một quá trình tổ chức có ý thức, hướng tới khơi dậy, biến đổi nhận thức, năng lực, tình cảm, thái độ của đối tượng được giáo dục theo hướng 19 hoàn thiện và phát triển nhân cách nghề nghiệp đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của con người trong xã hội hiện đại. Giáo dục nghề nghiệp là một bậc học của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm đào tạo trình độ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác cho người lao động, được thực hiện theo hai hình thức là đào tạo chính quy và đào tạo thường xuyên hoặc theo hình thức đào tạo ban đầu và đào tạo tiếp tục. Mục tiêu của giáo dục nghề nghiệp là đào tạo nhân lực trực tiếp cho sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, có năng lực hành nghề tương ứng với trình độ đào tạo có đạo đức, sức khỏe, có trách nhiệm nghề nghiệp, có khả năng sáng tạo, thích ứng với môi trường làm việc, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, cũng cố quốc phòng, an ninh.
Giáo dục nghề nghiệp là lĩnh vực đào tạo đa dạng với đối tượng tuyển sinh, loại hình và cơ cấu ngành nghề, có quan hệ chặt chẽ và chịu sự chi phối, ảnh hưởng trực tiếp của nhu cầu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội, thị trường lao động, việc làm trên phạm vi toàn quốc và từng địa phương. Như vậy, giáo dục nghề nghiệp là một bậc học của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm đào tạo trình độ sơ cấp, trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác cho người lao động, đáp ứng nhu cầu nhân lực trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, được thực hiện theo hai hình thức là đào tạo chính quy và đào tạo thường xuyên. Hiện nay, giáo dục nghề nghiệp ở nước ta hình thành, phát triển mạnh mẽ đáp ứng nhu cầu học nghề của người lao động và nhu cầu nhân lực phục vụ cho sự nghiệp Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước. Khái niệm về quy hoạch hệ thống các cơ sở giáo dục nghề nghiệp 20 Giáo dục nghề nghiệp nước ta đang đứng trước bối cảnh mới là công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nền kinh tế thị trường, kinh tế tri thức, toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và cách mạng công nghiệp 4.
Bối cảnh này tác động mạnh đến giáo dục nghề nghiệp, trong đó có mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Quy hoạch hệ thống các cơ sở giáo dục nghề nghiệp có tầm quan trọng không chỉ đối với sự phát triển hệ thống giáo dục nghề nghiệp mà còn đối với cả sự phát triển của hệ thống giáo dục quốc dân cũng như phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Đảng, Nhà nước ta có nhiều văn bản pháp lý đề cập đến nhiệm vụ quy hoạch hệ thống các cơ sở giáo dục, trong đó có giáo dục nghề nghiệp. Hệ thống các cơ sở giáo dục nghề nghiệp là xương sống của hệ thống giáo dục quốc dân nói chung và giáo dục nghề nghiệp nói riêng.
Bởi vậy, quy hoạch hệ thống các cơ sở giáo dục nghề nghiệp có tầm quan trọng không chỉ đối với sự phát triển hệ thống giáo dục nghề nghiệp mà còn đối với sự phát triển của hệ thống giáo dục quốc dân cũng như sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Giáo dục nghề nghiệp có sứ mệnh đào tạo khoảng 80% nhân lực kỹ thuật cho cả nước để công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo quy luật cung - cầu của nền kinh tế thị trường. Nếu đào tạo quá ít, cung không đủ cho cầu thì tới một giới hạn nào đó thị trường lao động sẽ lâm vào khủng hoảng thiếu và khi đó, không đủ nhân lực để phát triển sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội. Ngược lại, nếu đào tạo quá nhiều, cung vượt quá cầu tới một giới hạn nào đó thì thị trường lao đồng sẽ bị khủng hoảng thừa, một bộ phận không nhỏ học sinh/sinh viên tốt nghiệp không có việc làm dẫn đến hiệu quả đào tạo thấp, gây lãng phí lớn cho nhà nước cũng như cho xã hội.
Do vậy, hệ thống các cơ sở giáo dục nghề nghiệp có vai trò quan trọng là điều tiết cung và cầu nguồn lực kinh tế để tránh khủng hoảng thừa hoặc khủng hoảng thiếu trong từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.