Tổng quan nghiên cứu

Hóa học phối trí siêu phân tử trong hơn hai thập kỷ qua đã mở ra những bước tiến đột phá với sự phát triển của các hệ phức chất đa nhân, đa kim loại sở hữu cấu trúc và đặc tính hóa lý độc đáo. Luận văn thạc sĩ khoa học chuyên ngành Hóa Vô cơ mã số 8440112.01 của tác giả Lê Thị Y Trang, dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Phạm Chiến Thắng tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2019, tập trung giải quyết bài toán cốt lõi: điều khiển quá trình tự lắp ráp giữa phối tử hữu cơ đa càng và các ion kim loại để tạo nên hệ cấu trúc chủ - khách theo định hướng.

Nghiên cứu được triển khai trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu khoa học cấp Đại học Quốc gia Hà Nội với mục tiêu trọng tâm là tổng hợp thành công phối tử mới 2,2'-{1,2-phenylenbis(oxy)}điaxetoylbis(N,N-đietylthioure), ký hiệu là H2L, có khối lượng phân tử 454,61 g/mol với hiệu suất đạt khoảng 70%. Tiếp đó, đề tài thực hiện phản ứng phối trí giữa H2L với các ion kim loại chuyển tiếp hóa trị hai ưa cấu hình vuông phẳng gồm Cu(II) và Ni(II), kết hợp đồng thời với các cation kim loại kiềm K+, Rb+, Cs+ để tổng hợp 6 hệ phức chất dị kim loại.

Ý nghĩa học thuật của công trình được thể hiện qua các chỉ số cấu trúc cụ thể: làm sáng tỏ khả năng tạo khoang phối trí linh hoạt có thể chứa từ 8 đến 12 nguyên tử oxy bao quanh ion kim loại kiềm, đồng thời xác lập quy luật hiệu ứng khuôn phụ thuộc vào bán kính ion khách. Kết quả này cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác cho việc thiết kế các vật liệu chức năng có khả năng bắt giữ chọn lọc cation trong dung dịch.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng của thuyết axit - bazơ cứng - mềm Pearson (HSAB) và lý thuyết hóa học siêu phân tử về tương tác chủ - khách. Phối tử H2L chứa hai hợp phần chức năng riêng biệt: nhóm aroylthioure đóng vai trò axit mềm - trung gian ưa phối trí với ion kim loại chuyển tiếp Cu(II) và Ni(II) qua bộ nguyên tử cho (O, S), trong khi cầu nối bis(oxy) chứa khung ete catechol mang các nguyên tử oxy là tâm bazơ cứng thích hợp để liên kết với các cation kim loại kiềm có tính axit cứng.

Quá trình tạo phức chịu sự chi phối của ba khái niệm hóa học quan trọng: hiện tượng tautome hóa imin - thiol - ancol của hợp phần thioure, hiệu ứng chelat hóa giải tỏa điện tích âm trên vòng phối trí, và hiệu ứng khuôn định hướng cấu trúc không gian của ion kim loại kiềm. Sự kết hợp giữa các lực liên kết phối trí cộng hóa trị và tương tác tĩnh điện giúp ổn định hóa các đại vòng kim loại đa nhân dạng metallacrown.

Phương pháp nghiên cứu

Về mặt thực nghiệm, quá trình tổng hợp phối tử H2L được thực hiện qua phản ứng ngưng tụ giữa 5,65 gam (25 mmol) axit phenylenbis(oxi)điaxetic với 50 mL thionyl clorua (SOCl2) ở 50 - 60 độ C trong 4 giờ, sau đó cho sản phẩm clorua axit phản ứng với 2,64 gam (20 mmol) N,N-đietylthioure trong 80 mL dung môi tetrahydrofuran (THF) khan khi có mặt 5 mL (50 mmol) trietylamin ở 70 - 80 độ C trong 2 giờ. Quá trình tạo phức sử dụng 0,1 mmol muối axetat của Cu(II) hoặc Ni(II) kết hợp với 0,05 mmol muối clorua kim loại kiềm và 0,1 mmol LiClO4 trong hệ dung môi metanol - nước tại nhiệt độ 60 độ C. Cỡ mẫu thực nghiệm và tỷ lệ mol 2:1:2 được tính toán tối ưu nhằm khảo sát chính xác phản ứng tự lắp ráp.

Việc lựa chọn các phương pháp phân tích hiện đại nhằm giải quyết trọn vẹn cấu trúc phân tử từ trạng thái rắn đến dung dịch:

  • Phương pháp phổ hồng ngoại (FT-IR) trên máy IR Affinity-1S Shimadzu dải sóng 400 - 4000 cm-1 (mẫu ép viên KBr) nhằm nhận diện sự dịch chuyển dao động của nhóm C=O và C=S.
  • Phương pháp phổ khối lượng phân giải cao ESI-MS trên thiết bị LQT Orbitrap XL để xác định khối lượng chính xác của các mảnh cation phức.
  • Phương pháp phổ cộng hưởng từ hạt nhân 1H và 13C NMR đo trên máy Bruker Ascend 500 MHz tại 300K trong dung môi CDCl3 để phân tích tính đối xứng và cân bằng cấu dạng của phức chất nghịch từ Ni(II).
  • Phương pháp nhiễu xạ tia X đơn tinh thể trên hệ máy Bruker D8 Quest sử dụng bức xạ Mo Kα (bước sóng 0,71073 Å), giải cấu trúc bằng phần mềm SHELXT và tối ưu hóa qua phần mềm SHELXL kết hợp Olex2.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, phối tử H2L được tổng hợp thành công với hiệu suất thực nghiệm đạt 70%, thể hiện pic ion phân tử trên phổ ESI-MS tại m/z = 453,12 ứng với mảnh (M - H)-, trùng khớp tuyệt đối với công thức lý thuyết C22H30N4O4S2 (khối lượng 454,61 g/mol).

Thứ hai, dữ liệu phổ khối lượng ESI-MS khẳng định sự tạo thành rõ nét của hai dạng phức chất chủ - khách với tỷ lệ kim loại chuyển tiếp khác nhau: dạng hai nhân {M ⸦ Cu2(L)2}+ và dạng ba nhân {M ⸦ Cu3(L)3}+. Đối với phức chất của K+ (mẫu 1a), mảnh hai nhân chiếm ưu thế áp đảo với cường độ 100% tại m/z = 1071,20, gấp gần 5 lần mảnh ba nhân tại m/z = 1585,96 (23%). Ngược lại, khi kích thước ion kiềm tăng lên với Cs+ (mẫu 1c), mảnh ba nhân chiếm ưu thế tuyệt đối 100% tại m/z = 1679,95 so với 10% của dạng hai nhân tại m/z = 1165,11.

Thứ ba, cấu trúc tinh thể đơn tinh thể giải mã thành công bản chất lập thể: phức {Cs ⸦ Cu3(L)3}(ClO4) kết tinh dạng ba nhân trong đó Cs+ nằm tại tâm khoang rỗng và phối trí với toàn bộ 12 nguyên tử oxy của 3 phối tử, khoảng cách Cs-O dao động từ 3,123 đến 3,319 Å; các ion Cu(II) phối trí tứ diện dẹt với bộ nguyên tử (S, O) có độ dài liên kết Cu-O từ 1,919 đến 1,947 Å và Cu-S từ 2,212 đến 2,247 Å. Trong khi đó, với ion K+ và Rb+, phức chất kết tinh ở dạng hai nhân {(MeOH)2M ⸦ Cu2(L)2}(ClO4) chỉ phối trí 8 nguyên tử oxy từ phối tử và được bão hòa bởi 2 phân tử metanol.

Thứ tư, đối với phức chất Ni(II), cấu trúc tinh thể của {Cs ⸦ Ni3(L)3}(ClO4) cũng xác nhận dạng vòng ba nhân chứa Cs+ phối trí 12 nguyên tử oxy với khoảng cách Cs-O từ 3,095 đến 3,356 Å, các liên kết Ni-O đạt 1,865 - 1,894 Å và Ni-S đạt 2,144 - 2,157 Å. Phổ 1H NMR của mẫu 2c cho thấy tính đối xứng rất cao, trong khi mẫu 2b của Rb+ thể hiện sự tách pic phức tạp, minh chứng cho sự tồn tại đồng thời của cân bằng động học giữa dạng hai nhân và ba nhân trong pha dung dịch.

Thảo luận kết quả

Sự dịch chuyển mạnh của dải hấp thụ dao động hóa trị nhóm C=O trên phổ IR từ 1664 cm-1 ở phối tử tự do xuống vùng 1500 cm-1 ở phức Cu(II) (giảm 164 cm-1) và 1543 - 1554 cm-1 ở phức Ni(II) (giảm khoảng 120 cm-1) chứng minh sự mất proton của nhóm NH và sự giải tỏa electron pi sâu sắc trong vòng chelat sáu cạnh.

Hiện tượng kích thước cation kiềm điều khiển cấu trúc vòng lớn (hiệu ứng khuôn) thể hiện rõ rệt qua cân bằng dung dịch: 3 {M ⸦ M'2(L)2}+ chuyển hóa thuận nghịch thành 2 {M ⸦ M'3(L)3}+ kết hợp giải phóng ion M+. Cation K+ có bán kính nhỏ ưu tiên dạng hai nhân, cation Cs+ có bán kính lớn làm bền hóa dạng ba nhân, trong khi cation Rb+ có kích thước trung gian cho phép cả hai cấu trúc cùng tồn tại cân bằng.

Toàn bộ các quy luật cấu trúc này được trình bày trực quan thông qua bảng so sánh độ dài liên kết phân giải cao, sơ đồ phân bố m/z trên phổ khối lượng ESI-MS và các biểu đồ tương quan dịch chuyển hóa học trên phổ NMR đa chiều.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, mở rộng thử nghiệm bắt giữ và chiết tách chọn lọc đối với các cation kim loại phóng xạ nhóm kiềm và actinit (như Cs-137, Sr-90) nhằm nâng cao hệ số phân chia và đạt hiệu suất tách chiết trên 95% trong thời gian 12 tháng tới, do nhóm nghiên cứu Hóa Phối trí thuộc Khoa Hóa học chủ trì thực hiện.

Thứ hai, tối ưu hóa quy trình tổng hợp phối tử H2L bằng cách thay thế dung môi và nâng cao hiệu suất phản ứng đóng vòng từ mức 70% hiện tại lên trên 85%, giảm thiểu thời gian phản ứng từ 6 giờ xuống 3 giờ trong lộ trình 6 tháng, do các nghiên cứu viên phòng thí nghiệm Hóa Vô cơ đảm trách.

Thứ ba, tiến hành khảo sát hoạt tính xúc tác đồng thể và dị thể của các phức chất vòng lớn ba nhân chứa Cu(II) và Ni(II) trong các phản ứng ghép đôi hữu cơ kinh điển như Suzuki-Miyaura hoặc biến đổi quang hóa, hướng đến độ chuyển hóa cơ chất vượt trên 90% trong thời hạn 18 tháng, phối hợp giữa Bộ môn Hóa Vô cơ và Bộ môn Hóa Hữu cơ.

Thứ tư, thiết kế chế tạo màng cảm biến hóa học quang học hoặc điện hóa dựa trên khung cấu trúc {Cs ⸦ Ni3(L)3} để nhận biết định lượng ion Cs+ trong các mẫu nước thải công nghiệp với giới hạn phát hiện dưới 0,1 ppm trong vòng 24 tháng, do Viện Hóa học phối hợp cùng Trường Đại học Khoa học Tự nhiên triển khai.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất: Học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Hóa Vô cơ, Hóa Phân tích và Hóa Siêu phân tử. Tài liệu cung cấp quy trình chi tiết từ tổng hợp phối tử đa càng, kỹ thuật nuôi đơn tinh thể phức chất đến phương pháp giải cấu trúc tia X trên phần mềm chuyên dụng.

Nhóm thứ hai: Các chuyên gia và kỹ sư nghiên cứu vật liệu xử lý môi trường hạt nhân. Công trình đem lại góc nhìn thực chứng về cơ chế bẫy cation Cs+ kích thước lớn thông qua khoang chứa 12 nguyên tử oxy, phục vụ phát triển vật liệu thu hồi kim loại phóng xạ.

Nhóm thứ ba: Giảng viên giảng dạy các học phần Hóa học Phối trí nâng cao và Phân tích Cấu trúc Hợp chất vô cơ. Luận văn là nguồn minh họa thực tế sinh động về thuyết HSAB, hiệu ứng khuôn cation và phương pháp kết hợp phổ NMR 500 MHz để khảo sát cân bằng dung dịch.

Nhóm thứ tư: Các nhà khoa học nghiên cứu tổng hợp hóa dược và phức chất hoạt tính sinh học. Tài liệu cung cấp cơ sở dữ liệu hữu ích về hành vi phối trí của dẫn xuất aroylthioure với các ion kim loại chuyển tiếp sinh học như Cu(II) và Ni(II).

Câu hỏi thường gặp

Phối tử H2L có ưu điểm cấu tạo nào vượt trội so với các phối tử thioure kinh điển? Phối tử H2L sở hữu cầu nối 1,2-phenylenbis(oxy) linh động hơn nhiều so với khung phtaloyl hay đipicolinoyl cứng nhắc. Cấu tạo này cung cấp đồng thời 4 nguyên tử oxy ete và 4 tâm phối trí từ hai nhánh aroylthioure, tạo điều kiện hình thành khoang rỗng siêu phân tử có thể co giãn linh hoạt để ôm trọn các cation kim loại kiềm kích thước lớn.

Tại sao kích thước ion kiềm lại quyết định việc hình thành phức chất 2 nhân hay 3 nhân? Bán kính ion quyết định nhu cầu số phối trí. Ion Cs+ có kích thước lớn đòi hỏi số phối trí cao, làm bền hóa cấu trúc vòng ba nhân với 12 nguyên tử oxy bao quanh. Ngược lại, ion K+ có bán kính nhỏ hơn chỉ tương thích với khoang chứa 8 nguyên tử oxy của vòng hai nhân, kết hợp thêm 2 phân tử metanol để bão hòa cầu phối trí.

Vai trò then chốt của dung môi metanol và bazơ trietylamin trong phản ứng tổng hợp là gì? Trietylamin đóng vai trò nhận proton linh động từ nhóm NH của phối tử H2L, tạo anion aroylthioureat có mật độ điện tích giải tỏa cao nhằm đẩy nhanh tốc độ chelat hóa. Trong khi đó, metanol vừa là dung môi phân cực hòa tan các muối kim loại, vừa trực tiếp tham gia phối trí bão hòa trường phối trí của cation K+ và Rb+.

Phương pháp nào đã chứng minh sự tồn tại của cân bằng động học giữa hai dạng cấu trúc trong dung dịch? Phổ khối lượng ESI-MS ghi nhận đồng thời cả hai cụm pic của dạng hai nhân và dạng ba nhân trong cùng một mẫu đo của phức Rb+. Kết hợp với phổ 1H NMR xuất hiện nhiều bộ tín hiệu cộng hưởng phân tách của nhóm etyl và vòng thơm, nghiên cứu đã chứng minh rõ sự chuyển hóa qua lại giữa hai cấu dạng trong pha lỏng.

Tính nghịch từ của phức chất Ni(II) mang lại lợi thế phân tích nào so với phức Cu(II)? Phức chất Ni(II) vuông phẳng có tính nghịch từ với spin bằng 0, cho phép ghi phổ cộng hưởng từ hạt nhân 1H và 13C NMR sắc nét ở tần số cao 500 MHz. Điều này giúp xác định chi tiết tính đối xứng phân tử và độ linh động của các nhóm chức trong dung dịch, điều không thể thực hiện trực tiếp với phức Cu(II) thuận từ.

Kết luận

  • Luận văn đã tổng hợp thành công phối tử mới H2L với hiệu suất ổn định đạt khoảng 70% và xác định chuẩn xác cấu trúc bằng hệ thống phổ ESI-MS, IR, 1H và 13C NMR.
  • Đã tổng hợp và đặc trưng hóa toàn diện 6 hệ phức chất dị kim loại mới giữa ion kim loại chuyển tiếp Cu(II), Ni(II) và các ion kim loại kiềm K+, Rb+, Cs+.
  • Giải mã thành công cấu trúc đơn tinh thể tia X của các phức chất vòng ba nhân {Cs ⸦ Cu3(L)3}(ClO4) và {Cs ⸦ Ni3(L)3}(ClO4), khẳng định ion Cs+ phối trí hoàn hảo với 12 nguyên tử oxy trong khoang siêu phân tử.
  • Chứng minh quy luật hiệu ứng khuôn rõ nét: cation K+ ưu tiên định hướng tạo phức hai nhân, cation Cs+ định hướng tạo phức ba nhân, trong khi cation Rb+ duy trì trạng thái cân bằng động học trong dung dịch.
  • Đóng góp luận cứ khoa học quan trọng cho hóa học phối trí siêu phân tử tại Việt Nam, mở ra triển vọng ứng dụng bẫy chọn lọc kim loại trong vòng 12 đến 24 tháng tới; các nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác trực tiếp dữ liệu tinh thể học và quy trình thực nghiệm được công bố trong toàn văn công trình.