CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 1. Khái quát chung về văn hóa doanh nghiệp 1. Khái niệm văn hóa và văn hóa doanh nghiệp Vào đầu những năm 70, sau sự thành công rực rỡ của các công ty Nhật Bản, các công ty Mỹ bắt đầu có sự quan tâm đến VHDN. Đối với các công ty Nhật Bản thì VHDN là yếu tố hết sức quan trọng trong kinh doanh, là một trong những tác nhân chủ yếu dẫn đến sự thành công của họ.
Đầu thập kỷ 90, người ta đã bắt đầu đi sâu nghiên cứu tìm hiểu về những nhân tố cấu thành cũng như tác động to lớn của VH đối với sự phát triển, thành bại của một doanh nghiệp. Trong những năm gần đây, khái niệm VHDN ngày càng được sử dụng phổ biến, vấn đề về VHDN đã và đang được nhắc đến như một tiêu chí khi nói về doanh nghiệp. Tuy nhiên ở Việt Nam hiện nay, khái niệm VH còn đang rất mờ nhạt, ngoại trừ các công ty lớn họ hiểu và nhìn nhận đúng về VHDN thì các công ty nhỏ dường như đây là khái niệm còn quá mới mẻ. Có câu nói cho rằng “Văn hóa là cái mà còn sót lại chưa được học khi mà chúng ta đã được học qua tất cả”, và “Văn hóa là cái còn đọng lại sau khi chúng ta đã quên đi tất cả”.
Nghe có vẻ trừu tượng nhưng lại cũng phần nào phản ánh đúng thực tế. Muốn hiểu thế nào là VHDN, trước tiên ta phải hiểu được thế nào là “văn hóa”.”Văn hóa” là một khái niệm rất rộng, những định nghĩa về văn hóa có rất nhiều: - Theo Edward Tylor (2000), “Văn hóa là tổng thể phức hợp bao gồm kiến thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, thói quen và bất kì năng lực hay hành vi nào khác mà mỗi cá nhân với tư cách là thành viên của xã hội đạt được”. - Với Edward Hall, “Văn hóa là một hệ thống nhằm sáng tạo,chuyển giao, lưu trữ và chế biến bằng thông tin. Sợi chỉ xuyên suốt tất cả các nền văn hóa là truyền thông và giao tiếp”.
Theo nghĩa hẹp, VH có thể được hiểu là: “tổng thể các cấu trúc xã hội với các biểu hiện nghệ thuật, tôn giáo, trí tuệ của chúng, xác định một nhóm người hay một c 5 xã hội khác”. VH theo nghĩa hẹp xác định đặc trưng của một dân tộc, một tộc người, một xã hội hay một tầng lớp xã hội trong mối tương quan với các xã hội khác hay tầng lớp xã hội khác. Nhằm đưa ra một định nghĩa mới về văn hóa, tại lễ phát động Thập kỉ phát triển văn hóa ngày 21/1/1988, tổng giám đốc UNESCO Mayor nói “Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát và sống động mọi mặt của cuộc sống của mỗi cá nhân và cả cộng đồng đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỉ, nó đã cấu thành một hệ thống các giá trị, truyền thống thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình”. Với quan niệm xem văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, khái niệm văn hóa được mở rộng hơn.
Cách đây nửa thế kỉ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu và đòi hỏi sinh tồn”. Như vậy, văn hóa là một tổng thể hài hòa bao gồm nhiều lĩnh vực có liên quan mật thiết, tạo nên một chỉnh thể thống nhất thể hiện những giá trị vật chất và tinh thần của một cộng đồng người trong quá trình lâu dài để phát triển xã hội.
Trong quá trình nghiên cứu từ rất lâu đến nay, đã có rất nhiều khái niệm VHDN được đưa ra, nhưng cho đến ngày hôm nay vẫn chưa có một định nghĩa chuẩn nào được chính thức công nhận. - Theo quan điểm của Georges de Saite Maire, một chuyên gia người Pháp về doanh nghiệp vừa và nhỏ, thì “Văn hóa doanh nghiệp là tổng hợp các giá trị, các biểu tượng, huyền thoại, nghi thức, điều cấm kỵ, các quan điểm triết học, đạo đức tạo thành nền móng sâu xa của doanh nghiệp”. c 6 - Theo quan điểm của Tổ chức Lao động quốc tế Internetional Labour Organization (ILO), thì “Văn hóa doanh nghiệp là sự trộn lẫn đặc biệt các giá trị, các tiêu chuẩn, thói quen và truyền thống, những thái độ ứng xử và lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một tổ chức đã biết”. - Theo quan điểm của Edgar Shein, một chuyên gia nghiên cứu các tổ chức thì ông định nghĩa “Văn hóa công ty là tổng hợp các quan niệm chung mà các thành viên trong công ty học được trong quá trình giải quyết các vấn đề nội bộ và xử lý với các môi trường xung quanh”.
Đây là định nghĩa phổ biến và được chấp nhận khá rộng rãi. Tại Việt Nam, cũng có nhiều tác giả với những định nghĩa được đưa ra, là mối quan tâm của rất nhiều các nhà nghiên cứu về doanh nghiệp. - Theo ông Vũ Tiến Lộc, văn hóa doanh nghiệp là: “sự nhận thức chung về các giá trị của doanh nghiệp, được mọi người trong doanh nghiệp dù ở trình độ và vị trí khác nhau vẫn có thể miêu tả về văn hóa với cùng cách hiểu giống nhau. Bản sắc riêng này được thể hiện thông qua nhiều khía cạnh mà chúng ta có thể nhìn thấy được”.
Cụ thể là: Tầm nhìn, triết lý và chiến lược kinh doanh tạo dựng lòng tin với nhân viên trong doanh nghiệp và cam kết với khách hàng, đối tác và các bên liên quan; hệ thống các nội quy hay chủ trương, chính sách chi phối kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; cách ứng xử giao tiếp giữa lãnh đạo và nhân viên, giữa nhân viên với nhau hay giữa doanh nghiệp với khách hàng và đối tác…. - Theo Trần Quốc Dân (2005): văn hóa doanh nghiệp được hiểu là: “một hệ thống gồm những giá trị truyền thống, tập quán, lối ứng xử, nghi lễ, biểu tượng, chuẩn mực được hình thành trong quá trình xây dựng và phát triển của doanh nghiệp, có khả năng lưu truyền, tạo nên bản sắc riêng và có tác động sâu sắc tới tâm lý và hành vi của tất cả các thành viên trong doanh nghiệp”. Nhìn chung tất cả các định nghĩa đều đã đề cập đến những nhân tố tinh thần của VHDN như các giá trị đạo đức, các quan niệm, các nghi thức,.nhưng chưa có một định nghĩa nào đề cập tới nhân tố vật chất, một nhân tố quan trọng của văn hóa c 7 doanh nghiệp. Tổng hợp và đúc kết từ các định nghĩa trên, có thể hiểu một cách đơn giản và khoa học về khái niệm văn hóa doanh nghiệp như sau: “Văn hóa doanh nghiệp là một hệ thống các giá trị, chuẩn mực, các quan niệm và hành vi của doanh nghiệp.
Hệ thống các giá trị này chi phối hoạt động của mọi thành viên trong tổ chức, được các thành viên trong tổ chức tự giác tuân theo và góp phần tạo nên bản sắc riêng của tổ chức, giúp phân biệt tổ chức này với tổ chức khác”. Đa số các tổ chức lớn đều có một văn hóa chủ đạo và các tiểu văn hóa. Văn hóa chủ đạo hiểu một cách đơn giản thì nó là văn hóa của các cấp lãnh đạo, biểu hiện những giá trị cốt lõi được đa số các thành viên của tổ chức đồng thuận. Khi nhắc đến văn hóa doanh nghiệp tức là ta đang nhắc đến văn hóa này.
Các tiểu văn hóa là những văn hóa nhỏ bên trong một tổ chức, thường định hình từ sự phân chia theo đơn vị phòng ban và vị trí địa lý. Thí dụ trong một công ty lớn có các phòng ban nhỏ và mỗi phòng có một văn hóa khác nhau: phòng kế toán thì xoay quanh những con số và độ tỉ mỉ, chính xác cực kỳ cao; phòng kinh doanh thì phải năng động và sáng tạo, phòng nhân sự thì hướng tới con người trong tổ chức. Hoặc với những công ty sản xuất thì hướng tới sản phẩm còn công ty dịch vụ thì hướng tới khách hàng. Vai trò và chức năng của văn hóa doanh nghiệp 1.
Vai trò của văn hóa doanh nghiệp Vai trò của VHDN đối với môi trường bên trong doanh nghiệp “Văn hóa doanh nghiệp là một tài sản vô hình của doanh nghiệp, có vai trò to lớn đối với sự phát triển của một doanh nghiệp, là nền tảng, mục tiêu, là động lực và là hệ điều tiết của sự phát triển”. Trong phạm vi một doanh nghiệp, văn hóa có các vai trò sau đây: Giảm xung đột giữa các thành viên, giữa cá nhân với tập thể. Văn hóa doanh nghiệp là chất keo dính gắn kết các thành viên của doanh nghiệp. Nó giúp các thành viên thống nhất về cách hiểu vấn đề, đánh giá, lựa chọn và định hướng hành động.
Khi ta phải đối mặt với xu hướng xung đột lẫn nhau thì văn hóa chính là yếu tố giúp mọi người hòa hợp và thống nhất. c 8 Điều phối và kiểm soát: văn hóa doanh nghiệp điều phối và kiểm soát các hành vi cá nhân bằng các câu truyện, truyền thuyết, các chuẩn mực, thủ tục , quy trình, quy tắc,…Văn hóa doanh nghiệp mạnh sẽ góp phần định hướng tốt cho doanh nghiệp về tất cả các mặt như phong cách lãnh đạo, văn hóa kinh doanh, văn hóa chất lượng,. Khi phải ra một quyết định phức tạp, văn hóa doanh nghiệp giúp ta thu hẹp phạm vi các lựa chọn phải xem xét. Tạo động lực làm việc.
Văn hóa doanh nghiệp giúp nhân viên thấy rõ mục tiêu, định hướng và bản chất công việc mình làm, giúp họ thấy được công việc mình làm có ý nghĩa và họ sẽ tự hào, hãnh diện về doanh nghiệp mình. Điều này càng trở nên có ý nghĩa hơn khi tình trạng “chảy máu chất xám” đang ngày càng phổ biến. Lương và thu nhập chỉ là một phần của động lực làm việc. Khi thu nhập đạt đến một mức nào đó, người ta sẵn sàng đánh đổi chọn một mức lương thấp hơn để được làm việc ở một môi trường thoải mái, được đồng nghiệp tôn trọng.