CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ VIỄN THÔNG DI ĐỘNG 1. Khái niệm Dịch vụ là hoạt động hay lợi ích mà một bên có thể cung cấp cho bên kia, trong đó nó có tính vô hình và không dẫn đến sự chuyển giao sở hữu nào cả. Dịch vụ viễn thông di động là dịch vụ gửi, truyền, nhận và xử lý thông tin giữa hai hoặc một nhóm người sử dụng dịch vụ viễn thông, bao gồm dịch vụ cơ bản và dịch vụ giá trị gia tăng; là một tập hợp các hoạt động bao gồm các nhân tố không hiện hữu, tạo ra chuỗi giá trị và mang lại lợi ích tổng hợp cho người sử dụng, giúp người sử dụng liên lạc và kết nối với bạn bè, cộng đồng và thế giới thông qua các máy điện thoại di động trên nền công nghệ vô tuyến. Đặc điểm cơ bản của dịch vụ viễn thông di động 1.
Đặc điểm kỹ thuật Hiện nay tại Việt Nam, dịch vụ viễn thông di động được các mạng điện thoại di động khai thác theo công nghệ GSM (Global System for Mobile communication - Hệ thống thông tin di động toàn cầu) hoặc theo công nghệ CDMA (Code Division Multiple Access, Đa truy cập phân chia theo mã số) [14]. Công nghệ GSM Tiêu chuẩn hóa quốc tế, dễ tương thích và nâng cấp; Nhiều nước sử dụng, thị trường lớn; Chất lượng cao, đảm bảo bí mật cuộc gọi; Nhiều dịch vụ tiện ích; Máy và thuê bao riêng lẻ nên tiện sử dụng.Băng tần số: Dải tần 900Mhz và 1. Các thành phần cơ bản trong hệ thống: MS BTS BSC MSC Hình 1.1: Sơ đồ đơn giản mạng điện thoại di động Luan van -5- * Máy di động (MS: Mobile Station) Là thiết bị đầu cuối chứa các chức năng vô tuyến chung, xử lí giao diện vô tuyến và cung cấp các giao diện đối với người dùng (màn hình, loa, bàn phím, .) để thực hiện các dịch vụ của người sử dụng (thoại, fax, số liệu). Một máy di động gồm hai thành phần chính là: ME (Mobile Equipment – thiết bị di động) và SIM (Subscriber Identity Module – modul nhận dạng thuê bao).
Trong đó, SIM là một card điện tử được cắm vào ME để nhận dạng thuê bao và tin tức dịch vụ mà thuê bao đăng ký; cho phép MS được sử dụng. SIM gắn chặt với người dùng trong vai trò một thuê bao duy nhất, có thể làm việc với các ME khác nhau. * Trạm thu phát gốc (BTS: Base Tranceiver Station): là thiết bị trung gian giữa mạng GSM và thiết bị thuê bao di động MS, bao gồm các thiết bị thu/phát, anten. BTS là thiết bị cung cấp vùng phủ sóng.
Mỗi BTS tạo ra một khu vực vùng phủ sóng nhất định. Số lượng trạm BTS càng nhiều thì diện tích vùng phủ sóng càng lớn. * Bộ điều khiển trạm gốc (BSC: Base Station Controller): có nhiệm vụ quản lý tất cả giao diện vô tuyến BTS và MS thông qua các lệnh điều khiển từ xa. BSC được coi như là một tổng đài nhỏ, quản lý các kênh ở giao diện vô tuyến và chuyển giao.
Thông thường một BSC được nối với nhiều trạm BTS. * Trung tâm chuyển mạch dịch vụ viễn thông di động (MSC: Mobile Service Switching Center): là một tổng đài lớn, điều khiển và quản lí một số bộ điều khiển trạm gốc BSC, thực hiện tất cả các chức năng chuyển mạch và báo hiệu của máy di động nằm trong vùng địa lí do MSC quản lí. Công nghệ CDMA là công nghệ mới mang tính đột phá được ứng dụng rộng rãi trên khắp thế giới và mang ý nghĩa là tiêu chuẩn chung toàn cầu của thế hệ điện thoại di động thế giới mong muốn đạt tới. Luan van -6- Sự khác nhau giữa công nghệ CDMA & GSM CDMA, khác với GSM, là nhiều cuộc gọi có thể tiến hành đồng thời trên cùng một kênh, công nghệ đáp ứng nhanh và đạt hiệu quả cao các dịch vụ thoại, dữ liệu, fax, Internet.
Sử dụng công nghệ CDMA sẽ ít tốn pin, thời gian đàm thoại lâu hơn GSM. Hệ thống CDMA có bán kính phục vụ của một trạm phủ sóng lớn hơn các hệ thống GSM, nghĩa là ít trạm gốc hơn, giảm bớt chi phí vận hành, tiết kiệm cho cả nhà khai thác và người sử dụng mà vẫn đảm bảo chất lượng cuộc gọi đạt tới mức tối ưu. Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu, công nghệ CDMA có nhiều ưu điểm hơn GSM nhưng thất bại trên thị trường Việt Nam, lý do: SIM phải gắn liền trên máy điện thoại di động; không có nhiều mẫu mã về điện thoại để khách hàng lựa chọn; các doanh nghiệp chưa đủ tiềm lực để triển khai đồng bộ mạng lưới và thực hiện các hoạt động để thu hút, giữ chân khách hàng. Đặc điểm kinh tế Dịch vụ viễn thông di động có đầy đủ các đặc điểm và thuộc tính cơ bản của một dịch vụ như: tính vô hình, tính tức thời và tại chỗ, tính không tách rời được, tính không lưu giữ được và không đồng đều về chất lượng.
Vì là sản phẩm đặc biệt nên dịch vụ viễn thông di động còn có các đặc điểm như dịch vụ thuộc kết cấu hạ tầng, tiêu dùng một lần, có co dãn cầu theo giá dạng bậc thang và có tính chất kinh tế mạng. [15] - Dịch vụ có tính vô hình Quá trình cung cấp dịch vụ viễn thông di động là quá trình truyền đưa tin tức, là hiệu quả có ích của việc truyền đưa tin tức từ người gửi đến người nhận, không phải là quá trình sản xuất ra tin tức mới nên có tính vô hình. Khách hàng không thể nhìn, cảm thấy được trước khi mua dịch vụ viễn thông di động nên để giảm mức độ không chắc chắn khi đánh giá chất lượng dịch vụ, khách hàng thường tìm kiếm những bằng chứng về vật chất trong dịch vụ thông qua việc đánh Luan van -7- giá về địa điểm, nhân viên phục vụ, trang thiết bị, tài liệu, biểu tượng và giá cước của doanh nghiệp cung cấp. - Dịch vụ có tính đặc trưng không tách rời giữa quá trình cung cấp và tiêu dùng dịch vụ, là quá trình có tính tức thời và tính tại chỗ.
Tính tức thời thể hiện ở quá trình tiêu dùng diễn ra đồng thời với quá trình sản xuất ra dịch vụ viễn thông di động. Hiệu quả có ích của quá trình truyền đưa tin tức được tiêu dùng ngay trong quá trình sản xuất. Dịch vụ viễn thông di động được tạo ra ở đâu thì được bán ngay tại đó nên dịch vụ có tính tại chỗ. - Dịch vụ không thể lưu trữ được Sản phẩm dịch vụ viễn thông di động không thể sản xuất hàng loạt để dự trữ vì quá trình sản xuất gắn liền với quá trình tiêu dùng.
Do vậy, để dịch vụ viễn thông di động đáp ứng tốt nhu cầu khách hàng và không xảy ra tình trạng khắc phục sự cố sau quá trình truyền dữ liệu thì mọi dịch vụ cần phải bảo đảm chất lượng trước khi cung cấp. - Dịch vụ có tính không đồng đều về chất lượng Mức độ sử dụng dịch vụ viễn thông di động phụ thuộc vào tần suất sinh hoạt của xã hội, nhu cầu thường cao vào những giờ làm việc, các ngày lễ, Tết và sự kiện đặc biệt. Khi nhu cầu tăng cao thì chất lượng đường truyền sẽ bị ảnh hưởng, đôi khi xảy ra quá tải hoặc ngắt kết nối. Nhằm khắc phục tình trạng này, các nhà cung cấp dịch vụ phải luôn phát triển, hoàn thiện năng lực cung cấp của mình và có chiến lược điều chỉnh nhu cầu vào những giờ cao điểm bằng các hình thức khuyến mãi, giảm cước những giờ thấp điểm.
- Dịch vụ thuộc kết cấu hạ tầng Dịch vụ viễn thông di động tham gia vào hầu hết các hoạt động kinh tế xã hội, mọi đối tượng đều có cơ hội và nhu cầu sử dụng. Dịch vụ này đã được cộng đồng xem như là một dịch vụ thiết yếu của đời sống xã hội, một bộ phận không thể thiếu giống như điện, nước. - Sản phẩm tiêu dùng một lần Luan van -8- Đàm thoại, tin nhắn, dữ liệu đã gởi đi mà muốn tiếp tục kết nối thì người tiêu dùng phải tiếp tục tiêu dùng các đơn vị dịch vụ và trả phí mới cho nhà cung cấp dịch vụ nên dịch vụ viễn thông di động có tính chất là tiêu dùng một lần. - Dịch vụ có co dãn cầu theo giá dạng bậc thang Khi dịch vụ viễn thông di động giảm giá cước nhỏ sẽ ít ảnh hưởng đến sự thay đổi về nhu cầu sử dụng nhưng khi có mức giảm giá đủ lớn thì nhu cầu tăng về tốc độ phát triển thuê bao cũng như lưu lượng đàm thoại của các thuê bao và đỉnh cao là bùng nổ nhu cầu.
- Dịch vụ có tính chất kinh tế mạng Mỗi thuê bao có thể coi là một nút trong một mạng liên kết gồm nhiều thuê bao khác nhau. Khi có nhiều nút thì mối liên hệ giữa các nút tăng lên và cơ hội để xuất hiện một cuộc liên lạc giữa các nút tăng lên. Càng nhiều thuê bao thì thông tin được gởi đi càng nhiều và lưu lượng sử dụng tăng. Thêm một thuê bao sẽ bán được không phải một mà nhiều hơn một đơn vị sản phẩm.
Một thuê bao dù không gọi đi thì vẫn có ý nghĩa làm phát sinh lưu lượng vì các thuê bao khác sẽ gọi đến thuê bao này. Do vậy, phát triển thuê bao là yếu tố quan trọng để phát triển doanh doanh của các doanh nghiệp. Các mạng điện thoại di động lớn ở Việt Nam như Vinaphone, MobiFone, Viettel đã nhiều lần giảm cước mạnh dịch vụ viễn thông di động nhưng vẫn duy trì được tốc độ phát triển doanh thu và lợi nhuận vì số lượng thuê bao của các mạng tăng nhanh. Phân loại dịch vụ viễn thông di động Dịch vụ viễn thông di động bao gồm Dịch vụ cơ bản và Dịch vụ giá trị gia tăng.
Dịch vụ cơ bản Dịch vụ cơ bản là dịch vụ chủ yếu của doanh nghiệp cung cấp cho thị trường nhằm thỏa mãn một loại nhu cầu nhất định với một loại giá trị sử dụng cụ thể. Dịch vụ cơ bản gắn liền với công nghệ, hệ thống sản xuất và cung ứng dịch vụ. Luan van -9- Đối với dịch vụ viễn thông di động, dịch vụ cơ bản là dịch vụ truyền đưa tức thời thông tin của người nói đến người nghe qua hệ thống tổng đài mà không làm thay đổi loại hình hoặc nội dung thông tin. Dịch vụ cơ bản của dịch vụ viễn thông di động bao gồm: dịch vụ thoại, dịch vụ nhắn tin SMS thông thường và một số dịch vụ như sau: Cuộc gọi khẩn cấp; Dịch vụ hiển thị số gọi đến; Dịch vụ gọi quốc tế.