Chương 1 sẽ cung cấp các lý luận chung về bảo hiểm thân tàu là m cơ sở cho viê ̣c phát triể n và nâng cao hiê ̣u quả thực thi pháp luâ ̣t về bảo hiể m hàng hải nói chung và bảo hiể m thân tàu nói riêng. Khái niệm bảo hiểm thân tàu 1. Giới thiệu tổng quát về tàu biển Bất cứ quốc gia nào muốn thúc đẩy và phát triển kinh tế đều phải có hệ thống giao thông thông suốt. Hệ thống giao thông của mỗi nước được đánh giá trên cả ba lĩnh vực: đường thuỷ, đường bộ và đường không.
Có thể khẳng định rằng hầu hết các nước trên thế giới đều có hệ thống giao thông đường thuỷ và sự phát triển hay không lại phụ thuộc vào điều kiện hoàn cảnh của mỗi nước. Một trong những điều kiện không thể thiếu khi muốn phát triển giao thông đường thuỷ là phải có một đội tàu chuyên dùng. Lợi ích của giao thông đường thuỷ mà trực tiếp là từ các đội tàu mang lại cho các quốc gia nguồn lợi lớn trong kinh tế quốc phòng v. Có thể thấy rằng tàu biển là một phương tiện vận tải quan trọng trong hệ thống giao thông vận tải và là một nhân tố khó có thể thiếu trong nền kinh tế quốc dân.
Tàu biển là thuật ngữ dùng để chỉ những phương tiện nổi trên mặt nước có khả năng chuyên chở hàng hoá, vật phẩm, hành khách hoặc sử dụng vào mục đích khác trên biển hoặc trên những vùng nước khác mà tàu có thể đi lại được. Ngoài ra, còn có các khái niệm khác nhau về tàu thuỷ; chẳng hạn, trong "qui tắc phòng ngừa va chạm tàu thuyền trên biển" (International regulation for preventing collision at sea, 1972) thì tàu biển bao gồm tất cả các 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phương tiện hoặc có thể dùng làm phương tiện vận chuyển trên mặt nước, kể cả các loại tàu thuyền không có trọng lượng chiếm nước và thuỷ phi cơ. Như vậy, tàu biển bao gồm các tàu lớn, nhỏ chuyên chở hàng hoá, hành khách, tàu chuyên dùng (đông lạnh, chở dầu), sà lan, thuyền máy, thuyền buồm, tàu lai dắt, tàu cứu hộ, tàu kéo, cần cẩu nổi. Ngoài ra, người ta còn cho tất cả các trang thiết bị của một con tàu bao gồm: neo, xuồng cứu sinh, máy móc đều được coi là các bộ phận của một con tàu.
Tàu biển được coi là tàu hoạt động phải đạt được các yêu cầu sau: Một là, dùng để chuyên chở hoặc sử dụng vào những mục đích khác nhau đã định trên biển. Hai là, chạy trên một hải trình đã quy định có thể là đường hàng hải trong nước hoặc quốc tế. Tàu biển có những ưu, nhược điểm sau: + Ưu điểm: - Khả năng vận chuyển của tàu biển lớn: Khối lượng hàng hoá vận chuyển của một tàu biển cỡ trung bình cũng có thể lớn hơn rất nhiều so với các phương tiện vận chuyển trong các lĩnh vực giao thông vận tải khác. Mặt khác, tàu biển chứa đựng được hầu hết các loại hàng hoá: hàng cồng kềnh, siêu trường, siêu trọng, hàng lỏng,… đều có thể vận chuyển được.
- Giao thông đường biển với các tuyến đường hầu như là có sẵn do đó vận chuyển bằng tàu biển không tốn nhiều chi phí mở đường có chăng đó chỉ là chi phí để xây dựng các công trình trên biển để hỗ trợ như bến cảng, cầu cảng, đèn hải đăng. - Giá thành vận chuyển rẻ: là do khối lượng vận chuyển lớn đồng thời hệ thống giao thông đường thuỷ nhiều khi không bị hạn chế bởi địa hình nên có thể rút ngắn lại và thuận tiện hơn. + Nhược điểm: Bên cạnh những ưu điểm trên tàu biển còn có một số nhược điểm đòi hỏi phải được hạn chế và khắc phục. Đó là: - Tốc độ tàu biển chậm: Với hình khối lớn và khả năng vận chuyển nhiều lại hoạt động rộng khắp trên các vùng biển sóng nước tàu biển thường có tốc độ thấp, tốc độ tối đa của tàu biển khoảng 30 hải lý (1 hải lý = 1,852 km).
Chính vì tàu biển có tốc độ chậm mà kéo theo hành trình của con tàu dài ngày. Điều này có ảnh hưởng lớn về mặt kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi sự nhanh nhạy kịp thời, có những thời cơ chớp nhoáng nếu không nắm bắt ngay sẽ lỡ mất cơ hội, bỏ trống mất thị 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trường. Vì vậy, đối với những mặt hàng yêu cầu nhanh không thể vận chuyển bằng đường biển được.
- Tàu biển thường gặp nhiều rủi ro gây tổn thất lớn cho chủ tàu, chủ hàng: Giao thông đường thuỷ là lĩnh vực chịu ảnh hưởng rất nhiều của thiên nhiên. Hành trình dài ngày trên biển thì sự ảnh hưởng đó càng lớn. Với trọng tải và sức chứa lớn như vậy nên khi gặp rủi ro sẽ là một tổn thất đối với chủ tàu và các chủ hàng. - Do hoạt động của con tàu gần như là độc lập, lênh đênh trên biển nên việc cứu ứng, hạn chế tổn thất gặp nhiều khó khăn.
+ Các đặc trưng cơ bản của con tàu là: tên tàu, cỡ tàu, độ lớn tàu. + Có 3 cách xác định độ lớn của con tàu theo trọng tải là: Cách 1: Theo tấn dung tích đăng ký toàn phần (GRT- GROSS REGISTERED TONNAGE) Cách 2 : Theo tấn dung dịch tịnh (NRT- NET REGISTERED TONNAGE, 1NRT=2,83 m3) Cách 3 : Theo tấn sâu mớm nước ( DWT- DEAT WEIGHT TONNAGE) Theo luật quốc tế, tàu cắm cờ nước nào là mang quốc tịch nước đó được coi như lãnh thổ nổi mang chủ quyền nước đó. Những nước tham chiến hay thù địch lẫn nhau không cho mang cờ của nước đối tượng ra vào cảng của mình hoặc thậm chí còn bắt giữ khám xét tàu đối phương. Theo luật kinh doanh, chủ tàu có thể khai thác con tàu dưới dạng cho thuê từng khoang xếp hàng, cho thuê cả chuyến tàu hoặc cho thuê cả con tàu trong một thời gian dài thậm chí cho thuê cả đội ngũ sĩ quan, thuỷ thủ, thuyền viên.
Chính do những ưu, nhược điểm của tàu biển mà ngày nay người ta khắc phục bằng cách sử dụng các loại tàu biển khác nhau vào những mục đích khác nhau. Theo tính toán thì khối lượng hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển chiếm tới 90% khối lượng hàng hoá xuất nhập khẩu giữa các nước. Cũng chính vì vậy mà các nước đua nhau đóng những con tàu có trọng tải lớn và trang thiết bị hiện đại. Tương lai những con tàu có trọng tải trên 1 triệu tấn sẽ ra đời để đáp ứng nhu cầu thương mại giữa các nước.
Ngoài việc hiện đại hoá các trang thiết bị cho những con tàu cũ hiện nay người ta còn đóng những con tàu chuyên dùng khác như: Tàu chở khách, tàu hàng đông lạnh, hàng nặng, hàng cồng kềnh, tàu chở dầu. Việc đang dạng hoá các loại tàu một mặt phản ánh tỷ trọng hàng hoá xuất nhập khẩu giữa các nước, mặt khác để làm giảm đến mức tối thiểu các tổn 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thất có thể xảy ra. Ta có thể kể ra đây vài nét sơ lược về sự phát triển của tàu biển trên thế giới vào thế kỷ thứ XV, XVI nước Anh là nước có đội thương thuyền lớn nhất trên thế giới, đội thương thuyền này đi hầu hết các châu lục để buôn bán. Cho đến nay, đội tàu biển đã phát triển vượt bậc, đặc biệt là từ chiến tranh thế giới thứ hai trở lại đây đủ đáp ứng nhu cầu vận tải quốc tế.
Các nước có đội tàu lớn, có sức chở trên 10 tấn là: Anh, Nhật, Ba Lan, Pháp, Mỹ. Hàng năm, nguồn lợi do các đội tàu mang lại thông qua các phí vận chuyển lên tới hàng tỷ đôla. Như đã nói trên , giao thông đường thuỷ có ưu thế rất lớn , nhưng cũng có những hạn chế đó là chịu sự chi phối của tự nhiên , thời tiết, khí hậu… Bởi vâ ̣y , cho dù đội ngũ tàu có luôn cải tiến với trang thiết bị hiện đại đội ngũ thuyền viên luôn được nâng cao về tay nghề cũng không thể ngăn chặn hết được rủi ro đường thuỷ thuộc về mặt khách quan và mặt chủ quan. Khái niệm bảo hiểm thân tàu.
Bảo hiểm tàu biển là một loại hình bảo hiểm ra đời sớm nhất trong số các loại hình bảo hiểm. Đơn bảo hiểm cổ nhất còn lưu giữ được đến ngày nay là đơn bảo hiểm cấp năm 1347 cho tàu Santa Clara trong hành trình vận chuyển hàng hóa từ Genoa (Ý) đến quần đảo Majorca ( Tây Ban Nha ). Lịch sử bảo hiểm hàng hải nói chung, trong đó có bảo hiểm thân tàu, gắn liền với việc xuất hiện những thành phố - quốc gia của Ý trong thời kỳ trung cổ như Venice, Genoa và những thành phố khác, những nơi trở nên giàu có nhờ việc buôn bán phát đạt ở Địa Trung Hải. Những thành phố cảng và bản thân các cảng biển trở thành trung tâm của đời sống thương mại và kinh tế.
Chủ tàu hay người vận chuyển phải trả cho các nhà buôn một khoản “tiền rủi ro” theo điều lệ vay lãi, tùy thuộc vào loại tàu, tính chất và khối hàng hóa vận chuyển cũng như thời gian dự tính của chuyến đi. Từ đó xuất hiện khái niệm vay bảo đảm bằng tàu hay còn gọi là “vay mạo hiểm”, theo đó, trách nhiệm của người vay tiền sẽ được hủy bỏ nếu tàu bị tổn thất. Dần dần với sự phát triển của nền kinh tế, đã xuất hiện một loại hợp đồng bảo hiểm hàng hải độc lập, dưới hình thức đơn bảo hiểm, không còn điểm nào chung với hợp đồng vay bảo đảm bằng tàu trước kia. Bảo hiểm trong khái niệm chung nhất là một ngành nghề kinh tế đặc biệt.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về bảo hiểm, song tựu chung lại bảo hiểm được hiểu là sự cam kết của người bảo hiểm bồi thường cho người được bảo hiểm về những mất mát, hư hỏng thiệt hại 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của đối tượng được bảo hiểm do những rủi ro đã được thỏa thuận gây ra với điều kiện người được bảo hiểm đã mua bảo hiểm cho đối tượng đó và nộp một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm. Bảo hiểm ra đời là do sự tồn tại khách quan của rủi ro. Tiền bồi thường bảo hiểm chủ yếu là để khắc phục hậu quả của rủi ro. Phí bảo hiểm thu được thường được gọi là phí bảo hiểm dùng để bồi thường tổn thất.
Như vậy về bản chất, bảo hiểm là việc phân chia tổn thất của một hay một số người cho tất cả mọi người tham gia bảo hiểm cùng gánh chịu.