Luận văn: Pháp luật về Kiểm sát viên VKSND từ thực tiễn tỉnh Thanh Hóa

Luận văn thạc sĩ pháp luật về Kiểm sát viên VKSND tại Thanh Hóa. Phân tích thực trạng, bất cập và đề xuất các giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật.

Trường đại học

Học Viện Khoa Học Xã Hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2021

98
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan luận văn pháp luật về kiểm sát viên Thanh Hóa

Luận văn thạc sĩ về pháp luật kiểm sát viên tại tỉnh Thanh Hóa là một công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống, phân tích toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn. Trước yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, vai trò của ngành kiểm sát trở nên vô cùng quan trọng. Đội ngũ Kiểm sát viên, với tư cách là lực lượng nòng cốt thực hiện quyền công tốkiểm sát hoạt động tư pháp, phải đáp ứng những tiêu chuẩn cao về năng lực và phẩm chất. Như cố Tổng Bí thư Lê Duẩn đã nhấn mạnh, "Người cán bộ Kiểm sát viên phải thấy hết trách nhiệm cao cả và nặng nề của mình, luôn luôn tôn trọng sự thật, phân rõ đúng sai, hết sức giữ thái độ khách quan, thận trọng, công minh, chính trực". Nghiên cứu này tập trung vào bối cảnh đặc thù của tỉnh Thanh Hóa, một địa bàn rộng lớn, phức tạp về địa lý, kinh tế và xã hội, nơi tình hình tội phạm và vi phạm pháp luật diễn biến phức tạp. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã có những đóng góp quan trọng trong việc giữ vững ổn định chính trị và bảo vệ pháp chế. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật điều chỉnh về Kiểm sát viên vẫn còn nhiều bất cập, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng hoạt động. Do đó, việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp hoàn thiện là nhiệm vụ cấp thiết. Công trình này không chỉ làm rõ cơ sở lý luận mà còn đánh giá thực trạng hoạt động kiểm sát tại địa phương, từ đó đưa ra các kiến nghị mang tính khoa học và khả thi, góp phần xây dựng đội ngũ Kiểm sát viên vững mạnh, đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp tại Thanh Hóa.

1.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu về viện kiểm sát

Việc lựa chọn đề tài nghiên cứu về viện kiểm sát với tiêu điểm là pháp luật về Kiểm sát viên tại Thanh Hóa xuất phát từ yêu cầu khách quan và cấp thiết. Hệ thống pháp luật hiện hành về Kiểm sát viên đã bộc lộ nhiều hạn chế như thiếu đồng bộ, mâu thuẫn giữa các văn bản. Tiêu chuẩn bổ nhiệm còn cứng nhắc, chưa phù hợp thực tiễn. Công tác đào tạo, bồi dưỡng còn nặng về lý thuyết, thiếu kỹ năng thực hành, đặc biệt là kỹ năng tranh tụng tại phiên tòa. Chế độ đãi ngộ chưa tương xứng cũng là một rào cản, làm giảm động lực cống hiến của một bộ phận cán bộ. Những bất cập này là nguyên nhân trực tiếp làm cho chất lượng và năng lực kiểm sát viên chưa cao, ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi chức năng của viện kiểm sát.

1.2. Mục đích và đối tượng nghiên cứu của luận văn pháp luật

Mục đích chính của luận văn là nhận thức toàn diện về cơ sở lý luận và thực trạng pháp luật về Kiểm sát viên VKSND, đặc biệt là thực tiễn tại tỉnh Thanh Hóa. Luận văn tập trung làm rõ những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân. Từ đó, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Đối tượng nghiên cứu là các quy định pháp luật hiện hành về Kiểm sát viên, bao gồm các văn bản từ Hiến pháp, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, đến các quy định về tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn, và chế độ chính sách. Phạm vi nghiên cứu giới hạn trong thực tiễn thi hành tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa giai đoạn từ năm 2015 đến nay, dưới góc độ khoa học Luật Hiến pháp và Luật Hành chính.

II. Phân tích thực trạng hoạt động kiểm sát tại Thanh Hóa

Thanh Hóa là một tỉnh có vị trí địa lý chiến lược, diện tích lớn thứ 5 và dân số đông thứ 3 cả nước. Đặc điểm địa hình phức tạp, trải dài từ miền núi đến đồng bằng và ven biển, cùng với hệ thống giao thông kết nối Bắc - Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu kinh tế nhưng cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ về an ninh trật tự. Trong những năm gần đây, tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật và tranh chấp trên địa bàn có xu hướng gia tăng cả về số lượng và mức độ phức tạp. Thực tế này đặt ra những thách thức không nhỏ đối với Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa trong việc thực hiện chức năng của viện kiểm sát. Thực trạng hoạt động kiểm sát cho thấy, bên cạnh những kết quả tích cực, vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn. Một trong những vấn đề nổi cộm là sự chưa tương xứng giữa biên chế được giao và khối lượng công việc thực tế, đặc biệt ở các đơn vị cấp huyện. Hệ thống pháp luật còn chồng chéo, gây khó khăn trong áp dụng. Năng lực kiểm sát viên ở một số lĩnh vực còn hạn chế, nhất là kỹ năng đối đáp, tranh tụng tại phiên tòa hình sự. Những yếu tố này đòi hỏi cần có sự đánh giá khách quan và toàn diện để tìm ra nguyên nhân gốc rễ, từ đó xây dựng các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả công tác, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới.

2.1. Đặc điểm kinh tế xã hội ảnh hưởng đến công tác kiểm sát

Với quy mô dân số lớn và tỷ lệ lao động qua đào tạo còn thấp, Thanh Hóa đối mặt với áp lực lớn về giải quyết việc làm. Tác động từ mặt trái của kinh tế thị trường cùng sự du nhập văn hóa phức tạp là những nguyên nhân cơ bản làm gia tăng tội phạm. Vị trí địa lý trung chuyển khiến tỉnh trở thành địa bàn tiềm ẩn cho các loại tội phạm có tổ chức, tội phạm ma túy và tội phạm kinh tế. Những đặc điểm xã hội phức tạp này gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố và xét xử, đòi hỏi vai trò của kiểm sát viên phải được phát huy tối đa. Họ không chỉ cần vững về chuyên môn mà còn phải am hiểu sâu sắc về tình hình địa phương để đưa ra các quyết định tố tụng chính xác.

2.2. Những bất cập trong pháp luật và năng lực kiểm sát viên

Pháp luật về Kiểm sát viên còn thiếu tính đồng bộ. Một số quy định trong Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và các văn bản liên quan còn mâu thuẫn, chưa được hướng dẫn kịp thời. Đặc biệt, cơ chế bảo đảm thực thi quyền năng pháp lý của Kiểm sát viên chưa thực sự hiệu quả. Về năng lực, một bộ phận không nhỏ Kiểm sát viên còn hạn chế về kỹ năng nghề nghiệp như hỏi cung, lấy lời khai, và đặc biệt là kỹ năng tranh tụng. Một số có biểu hiện tiêu cực, phiền hà, sách nhiễu, làm ảnh hưởng đến uy tín ngành. Nguyên nhân của tình trạng này đến từ công tác đào tạo chưa gắn liền với thực tiễn và chế độ đãi ngộ chưa đủ sức hấp dẫn, giữ chân người tài.

III. Cơ sở pháp lý về kiểm sát viên VKSND tỉnh Thanh Hóa

Pháp luật về Kiểm sát viên là một hệ thống các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, điều chỉnh toàn diện các mặt liên quan đến chức danh này. Nền tảng pháp lý cao nhất là Hiến pháp, tiếp đó là các văn bản luật chuyên ngành như Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 và Luật Cán bộ, công chức. Các văn bản này quy định rõ địa vị pháp lý, tiêu chuẩn, nhiệm vụ và quyền hạn của kiểm sát viên, cũng như quy trình tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm và chế độ chính sách. Kiểm sát viên được xác định là công chức nhà nước, được bổ nhiệm theo nhiệm kỳ để thực hiện quyền công tốkiểm sát hoạt động tư pháp. Pháp luật quy định chặt chẽ các tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ chuyên môn và kinh nghiệm công tác đối với từng ngạch Kiểm sát viên. Việc quy định rõ ràng cơ sở pháp lý là điều kiện tiên quyết để xây dựng đội ngũ Kiểm sát viên chuyên nghiệp, hoạt động hiệu quả, đảm bảo tính thống nhất và nghiêm minh của pháp luật. Đây là công cụ quan trọng để nhà nước quản lý đội ngũ cán bộ tư pháp, đồng thời là hành lang pháp lý để Kiểm sát viên thực thi đúng chức trách, bảo vệ lợi ích nhà nước và quyền hợp pháp của công dân.

3.1. Nhiệm vụ và quyền hạn của kiểm sát viên theo luật định

Theo Điều 83 Luật Tổ chức VKSND năm 2014, khi thực hành quyền công tốkiểm sát hoạt động tư pháp, Kiểm sát viên phải tuân theo pháp luật và chịu sự chỉ đạo của Viện trưởng. Họ có quyền ra quyết định, kết luận, yêu cầu, kiến nghị theo quy định. Pháp luật cũng quy định rõ những việc Kiểm sát viên không được làm, như tư vấn cho bị can, bị cáo hoặc can thiệp trái pháp luật vào việc giải quyết vụ án. Những quy định này nhằm đảm bảo tính khách quan, minh bạch và chống lạm quyền trong quá trình thực thi công vụ, khẳng định vai trò của kiểm sát viên trong việc bảo vệ pháp chế.

3.2. Tiêu chuẩn và quy trình tuyển chọn bổ nhiệm kiểm sát viên

Pháp luật quy định tiêu chuẩn chung cho Kiểm sát viên bao gồm: là công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, có phẩm chất đạo đức tốt, trình độ cử nhân luật trở lên, đã qua đào tạo nghiệp vụ và có thời gian công tác thực tiễn. Ngoài ra, mỗi ngạch (sơ cấp, trung cấp, cao cấp, VKSND tối cao) đều có tiêu chuẩn cụ thể về thâm niên và năng lực. Quy trình tuyển chọn được đổi mới theo hướng thi tuyển đối với các ngạch sơ cấp, trung cấp, cao cấp thông qua Hội đồng thi tuyển, đảm bảo tính công khai, minh bạch. Quy định này giúp lựa chọn được những cá nhân thực sự có năng lực kiểm sát viên để bổ nhiệm vào các chức danh tư pháp quan trọng.

3.3. Mối quan hệ của kiểm sát viên trong tố tụng hình sự

Trong tố tụng hình sự, Kiểm sát viên có mối quan hệ chặt chẽ với các cơ quan và người tiến hành tố tụng khác. Đối với Cơ quan điều tra, Kiểm sát viên thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra, đảm bảo không bỏ lọt tội phạm và không làm oan người vô tội. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố, tranh tụng với luật sư để bảo vệ cáo trạng, góp phần giúp Hội đồng xét xử ra phán quyết đúng đắn. Mối quan hệ phối hợp và giám sát này là cơ chế quan trọng để đảm bảo hoạt động tư pháp diễn ra khách quan, đúng pháp luật.

IV. Giải pháp nâng cao hiệu quả cho kiểm sát viên Thanh Hóa

Để khắc phục những tồn tại và đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp tại Thanh Hóa, việc đề ra các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cho đội ngũ Kiểm sát viên là vô cùng cần thiết. Trọng tâm của các giải pháp này cần tập trung vào hai lĩnh vực chính: hoàn thiện thể chế pháp luật và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Về mặt pháp luật, cần rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định còn chồng chéo, mâu thuẫn, đặc biệt là các quy định liên quan đến nhiệm vụ và quyền hạn của kiểm sát viên trong các giai đoạn tố tụng. Cần xây dựng một cơ chế bảo vệ Kiểm sát viên hiệu quả khi thi hành công vụ, giúp họ yên tâm và bản lĩnh hơn trong đấu tranh với tội phạm. Về nguồn nhân lực, công tác đào tạo, bồi dưỡng phải được đổi mới căn bản. Thay vì nặng về lý thuyết, chương trình đào tạo cần tăng cường các kỹ năng thực hành, kỹ năng mềm, đặc biệt là kỹ năng tranh tụng và hùng biện. Đồng thời, phải đặc biệt chú trọng giáo dục, rèn luyện đạo đức nghề nghiệp kiểm sát viên, xây dựng văn hóa liêm chính, phòng chống tiêu cực. Chế độ đãi ngộ, bao gồm lương, phụ cấp và các chính sách khác, cần được cải thiện để tương xứng với trách nhiệm và áp lực công việc, qua đó thu hút và giữ chân những cán bộ có tài, có đức.

4.1. Hoàn thiện pháp luật theo yêu cầu cải cách tư pháp

Một hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất và khả thi là nền tảng cho mọi hoạt động tư pháp. Cần sớm thể chế hóa đầy đủ các chủ trương, chính sách của Đảng về cải cách tư pháp liên quan đến chức năng của viện kiểm sát. Cần nghiên cứu sửa đổi Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và các luật tố tụng theo hướng làm rõ hơn nữa thẩm quyền, trách nhiệm của Kiểm sát viên, tăng cường tính độc lập và đề cao trách nhiệm cá nhân trong hoạt động công vụ. Việc xây dựng các văn bản hướng dẫn chi tiết, kịp thời sẽ giúp tháo gỡ các vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

4.2. Tăng cường đào tạo năng lực và đạo đức nghề nghiệp

Chất lượng của hoạt động kiểm sát phụ thuộc quyết định vào năng lực kiểm sát viên. Do đó, cần đa dạng hóa các hình thức đào tạo, kết hợp giữa học tập tại trường với bồi dưỡng tại chức, tổ chức các phiên tòa giả định, các cuộc thi nghiệp vụ. Nội dung đào tạo cần cập nhật kiến thức mới về pháp luật, tội phạm học và các kỹ năng cần thiết trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Song song với chuyên môn, việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp kiểm sát viên phải được coi là nhiệm vụ hàng đầu. Phải xây dựng các tiêu chí, chuẩn mực đạo đức cụ thể và có cơ chế giám sát, xử lý nghiêm minh các trường hợp vi phạm, đảm bảo đội ngũ Kiểm sát viên thực sự "công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn".

V. Kết quả nghiên cứu thực tiễn VKSND tỉnh Thanh Hóa

Quá trình nghiên cứu thực tiễn tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa cho thấy những kết quả đáng ghi nhận bên cạnh các tồn tại, hạn chế. Về ưu điểm, ngành Kiểm sát Thanh Hóa đã bám sát các nhiệm vụ chính trị của địa phương, thực hiện tốt chức năng của viện kiểm sát, góp phần quan trọng vào công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và giữ vững an ninh chính trị. Công tác thực hành quyền công tốkiểm sát hoạt động tư pháp trong các vụ án hình sự ngày càng được nâng cao, tỷ lệ án oan sai, bỏ lọt tội phạm giảm. Nhiều Kiểm sát viên đã thể hiện được bản lĩnh, trình độ và tinh thần trách nhiệm cao. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra những hạn chế cố hữu. Thực trạng hoạt động kiểm sát cho thấy chất lượng tranh tụng của một số Kiểm sát viên tại phiên tòa còn yếu, chưa đủ sức thuyết phục. Việc áp dụng công nghệ thông tin vào quản lý, chỉ đạo điều hành còn chậm. Công tác kiểm sát giải quyết các vụ án dân sự, hành chính đôi khi còn hình thức. Nguyên nhân của những hạn chế này mang tính hệ thống, bao gồm cả những bất cập từ pháp luật, áp lực công việc quá tải, và một phần do năng lực kiểm sát viên chưa đáp ứng kịp yêu cầu.

5.1. Đánh giá ưu điểm trong công tác thực hành quyền công tố

Trong giai đoạn 2015 đến nay, VKSND hai cấp tỉnh Thanh Hóa đã thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố. Hầu hết các vụ án được khởi tố, điều tra, truy tố đều đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vai trò của kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra được thể hiện rõ nét qua việc phê chuẩn các quyết định tố tụng, yêu cầu điều tra và trực tiếp tham gia một số hoạt động điều tra. Chất lượng cáo trạng được nâng lên, đảm bảo tính chặt chẽ, có căn cứ. Những kết quả này đã góp phần nâng cao hiệu quả răn đe, phòng ngừa tội phạm trên địa bàn.

5.2. Nhận diện hạn chế và nguyên nhân trong hoạt động tư pháp

Bên cạnh thành tựu, hoạt động kiểm sát hoạt động tư pháp vẫn còn những hạn chế. Một số vi phạm trong hoạt động điều tra, tạm giữ, tạm giam chưa được phát hiện kịp thời qua công tác kiểm sát. Chất lượng kháng nghị trong các lĩnh vực dân sự, hành chính chưa cao. Nguyên nhân chính là do khối lượng công việc lớn, trong khi biên chế còn thiếu. Một số Kiểm sát viên chưa chủ động, sâu sát trong việc nắm bắt hồ sơ, dẫn đến việc phát hiện vi phạm còn hạn chế. Bên cạnh đó, sự phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng đôi lúc chưa thực sự đồng bộ, hiệu quả.

VI. Hướng phát triển cho đề tài về kiểm sát viên Thanh Hóa

Luận văn thạc sĩ về pháp luật kiểm sát viên tại Thanh Hóa không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn mang giá trị thực tiễn sâu sắc. Kết quả nghiên cứu đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận, đồng thời phân tích, đánh giá một cách khách quan thực trạng hoạt động kiểm sát tại một địa bàn cụ thể. Từ đó, những giải pháp nâng cao hiệu quả được đề xuất có cơ sở khoa học vững chắc, khả năng ứng dụng cao. Hướng phát triển trong tương lai cho các đề tài nghiên cứu về viện kiểm sát cần tiếp tục đi sâu vào các khía cạnh chuyên biệt hơn. Có thể nghiên cứu về cơ chế kiểm soát quyền lực trong nội bộ ngành Kiểm sát, hoặc vai trò của Kiểm sát viên trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0, đặc biệt là việc xử lý tội phạm công nghệ cao. Nghiên cứu so sánh mô hình tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát Việt Nam với các nước trên thế giới cũng là một hướng đi tiềm năng. Quan trọng hơn cả, các kết quả nghiên cứu phải được chuyển hóa thành những kiến nghị, đề xuất cụ thể, góp phần trực tiếp vào quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật, thúc đẩy công cuộc cải cách tư pháp tại Thanh Hóa nói riêng và cả nước nói chung.

6.1. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn thạc sĩ

Về lý luận, luận văn góp phần bổ sung vào hệ thống lý luận về Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, làm rõ hơn các quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp. Về thực tiễn, kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan tiến hành tố tụng, các cơ sở đào tạo luật. Quan trọng hơn, các đề xuất, kiến nghị trong luận văn là cơ sở để Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa và các cơ quan có thẩm quyền xem xét, áp dụng nhằm khắc phục hạn chế, nâng cao chất lượng hoạt động.

6.2. Kiến nghị nhằm bảo đảm thực hiện pháp luật hiệu quả

Để bảo đảm pháp luật về Kiểm sát viên được thực thi hiệu quả, luận văn đưa ra một số kiến nghị cốt lõi. Thứ nhất, cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ trong ngành Kiểm sát. Thứ hai, Quốc hội và các cơ quan có thẩm quyền cần ưu tiên nguồn lực để hoàn thiện hệ thống pháp luật, đảm bảo tính đồng bộ, khả thi. Thứ ba, VKSND tối cao cần tiếp tục đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng và có chính sách đãi ngộ thỏa đáng. Cuối cùng, cần xây dựng cơ chế giám sát hiệu quả của xã hội và nhân dân đối với hoạt động của Kiểm sát viên, đảm bảo đội ngũ này thực sự trong sạch, vững mạnh.

04/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SÁT VIÊN VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 1. Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân 1. Khái niệm Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Kiểm sát viên VKSND trước hết là cán bộ, công chức nhà nước. Vì vậy, để xây dựng khái niệm về Kiểm sát viên VKSND, trước hết cần phải làm rõ khái niệm cán bộ, công chức nhà nước.

Theo các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành thì ở nước ta sử dụng đồng thời ba thuật ngữ cán bộ, công chức và viên chức. Cán bộ, được hiểu theo nghĩa thông thường nhất là những người được nhà nước tuyển dụng để làm việc trong bộ máy chính quyền các cấp, lực lượng vũ trang (mà không phải là sỹ quan, hạ sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng), các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế… Khoản 1 Điều 4 Luật Cán bộ công chức năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2019 quy định: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.” [37] Theo đó, cán bộ là những người đủ các tiêu chí chung của cán bộ theo quy định của pháp luật, công chức theo quy định của pháp luật và được tuyển vào làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội thông qua bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ chức danh theo nhiệm kỳ. 10 Theo quy định của Hiến pháp thì những người làm việc trong các cơ quan, tổ chức nhà nước bao gồm cán bộ, công chức và viên chức. Điều 8, Hiến pháp năm 2013 quy định: "Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức nhà nước phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân…" [12].

Công chức, là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi hơn cán bộ, là thuật ngữ mang tính lịch sử và được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới. Nhưng mỗi quốc gia khái niệm công chức lại mang một màu sắc riêng, phản ánh đặc sắc riêng của tổ chức bộ máy nhà nước và nền công vụ ở mỗi quốc gia. Mỗi một giai đoạn lịch sử, mỗi nền công vụ và chế độ chính sách ở mỗi quốc gia, mỗi thời kỳ mà khái niệm công chức được hiểu theo nghĩa khác nhau. Khoản 2, Điều 4, Luật Cán bộ, Công chức năm 2008 sửa đổi bổ sung năm 2019 quy định: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.

Là một bộ phận hợp thành của cán bộ, công chức, Kiểm sát viên VKSND là khái niệm được quy định trong Pháp lệnh Kiểm sát viên năm 2002 (sửa đổi, bổ sung năm 2011), Luật tổ chức VKSND năm 2002 và đến nay là Luật tổ chức VKSND năm 2014. Tại Điều 74 Luật Tổ chức VKSND năm 2014 quy định: Kiểm sát viên là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát các 11 hoạt động tư pháp [38]. Đồng thời, căn cứ Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 quy định những người là công chức thì xác định “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật, làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị quy định tại Nghị định này” [4]. Theo đó, công chức trong hệ thống VKSND là người làm việc trong hệ thống VKSND các cấp, nằm trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước.

Đối với VKSND tối cao, gồm: Các Phó Viện trưởng VKSND tối cao; kiểm sát viên, kiểm tra viên và người làm việc trong văn phòng, vụ, cục, ban và Viện nghiệp vụ thuộc VKSND tối cao. Đối với VKSND cấp cao, gồm: Viện trưởng, Phó Viện trưởng, kiểm sát viên, kiểm tra viên, người làm việc trong văn phòng, Viện nghiệp vụ thuộc VKSND cấp cao. Đối với VKSND cấp tỉnh, gồm: Viện trưởng, Phó Viện trưởng; kiểm sát viên, kiểm tra viên; người làm việc trong văn phòng, phòng thuộc VKSND cấp tỉnh. Đối với VKSND cấp huyện, gồm: Viện trưởng, Phó Viện trưởng; kiểm sát viên, kiểm tra viên và người làm việc trong VKSND cấp huyện.

Qua phân tích các quy định trên đây, có thể khái quát: Kiểm sát viên VKSND là công dân Việt Nam, được tuyển dụng vào ngạch công chức của VKSND, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước, được bổ nhiệm vào vào ngạch Kiểm sát viên theo nhiệm kỳ để làm nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Đặc điểm Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Viện kiểm sát nhân dân là một bộ phận trong bộ máy cơ quan nhà nước. Kiểm sát viên VKSND là những người được bổ nhiệm thực hiện nhiệm vụ của VKSND theo thẩm quyền được pháp luật quy định, phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước nhân dân và Viện trưởng VKSND. Kiểm sát viên là một bộ phận của đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước.

Do đó, hoạt động của Kiểm sát viên trước hết nhằm thực hiện nhiệm vụ chung của cán bộ, công chức nhà nước. Về vị trí: VKSND là cơ quan trong bộ máy nhà nước ta, Kiểm sát viên VKSND là một bộ phận của cán bộ, công chức nhà nước. Vấn đề này được quy định bởi nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được xác lập trong Hiến pháp. Về chức năng, nhiệm vụ: Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp.

Về tổ chức, quyền hạn: VKSND là một hệ thống cơ quan trong bộ máy nhà nước, gồm có bốn cấp: VKSND tối cao, VKSND cấp cao, VKSND cấp tỉnh, VKSND cấp huyện và Viện kiểm sát quân sự được phân cấp đảm nhiệm chức năng, nhiệm vụ theo quy định của Luật Tổ chức VKSND. Ở mỗi cấp, VKSND được phân bổ số lượng Kiểm sát viên theo ngạch. Có Kiểm sát viên được bổ nhiệm chỉ thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp; một số Kiểm sát viên vừa được bổ nhiệm để thực hiện chức năng trên của Kiểm sát viên, vừa giữ chức danh quản lý theo nhiệm kỳ. Về hoạt động: VKSND thực hiện hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp.

Thực hành quyền công tố là hoạt động của VKSND để thực hiện việc buộc tội của nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị 13 khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự; kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của VKSND kiểm sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia các quan hệ pháp luật trong hoạt động tư pháp. Kiểm sát viên VKSND có các đặc điểm cụ thể sau: Kiểm sát viên là công chức ngành kiểm sát, là một chức danh pháp lý được bổ nhiệm để thực hiện nhiệm vụ của VKSND là thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp. Với đặc thù là người thực thi pháp luật và thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật trong hoạt động tư pháp, hoạt động của Kiểm sát viên nhằm bảo vệ Hiến pháp, bảo đảm pháp luật, đảm bảo pháp luật được thực thi một cách nghiêm chỉnh và thống nhất, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân. Kiểm sát viên VKSND phải đảm bảo tiêu chuẩn: Là công dân Việt Nam; về phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, phải tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, tận tụy phục vụ nhân dân; có tinh thần đấu tranh không khoan nhượng với mọi tội phạm và vi phạm pháp luật nhằm mục tiêu bảo vệ Hiến pháp, pháp luật, lẽ phải và công bằng xã hội; Kiểm sát viên VKSND phải không ngừng phấn đấu, học tập và làm theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cán bộ ngành Kiêm sát “Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn”; có ý thức tổ chức kỷ luật, chấp hành nguyên tắc tổ chức của VKSND.

Với chức năng, nhiệm vụ được Hiến pháp và pháp luật quy định, Kiểm sát viên là những người trực tiếp thực hiện chức năng, nhiệm vụ của VKSND nên có điều kiện gần dân, thông qua thực hiện nhiệm vụ dễ làm dân tin, dân mến. Từ đó tuyên truyền, phổ biến và vận động nhân dân tuân thủ pháp luật, thực hiện đường lối, chính sách của Đảng. Cùng với sự phát triển của đất nước, Kiểm sát viên VKSND là lực lượng quan trọng, tiên phong góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN. Tuy nhiên, trên 14 thực tế cơ chế để đảm bảo thực thi quyền của VKSND nói chung và Kiểm sát viên VKSND còn chưa đảm bảo, chế độ chính sách đối với Kiểm sát viên chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ.

Nên, còn không ít Kiểm sát viên chưa toàn tâm, toàn ý với công việc, chưa tâm huyết với nhiệm vụ được giao. Ngoài phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, Kiểm sát viên VKSND phải bảo đảm tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Theo quy định tại Điều 75 Luật Tổ chức VKSND: Kiểm sát viên phải có trình độ cử nhân Luật trở lên, đã được đào tạo về nghiệm vụ kiểm sát. Xuất phát từ yêu cầu hiện nay, đòi hỏi mỗi Kiểm sát viên phải “Tinh thông về pháp luật”, nắm vững và áp dụng đúng các quy định của pháp luật Việt Nam, các Điều ước quốc tế, các quy chế nghiệp vụ của ngành.

Nhất là các quy định pháp luật trong lĩnh vực công tác được giao để thực hiện chức năng hiệu quả.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ