CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 1. Khái niệm, đặc điểm bảo vệ và phát triển rừng theo pháp luật Việt Nam 1. Khái niệm rừng, khái niệm bảo vệ và phát triển rừng 1. Khái niệm rừng Rừng không chỉ có ý nghĩa với sự phát triển của đất nước mà còn có ý nghĩa thiết thực với đời sống con người.
Pháp luật về bảo vệ tài nguyên rừng ở Việt Nam hiện nay mà cụ thể là Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 tại Điều 3 khoản 2 đã định nghĩa như sau: Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa, thực vật hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên. Rừng gồm: rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng. Như vậy theo quy định mà pháp luật Việt Nam hiện hành đã đưa ra thì khái niệm rừng được biết đến một cách khái quát gồm có rừng trồng và rừng tự nhiên. Trong quy định này, khái niệm rừng được biết đến với đầy đủ các thành phần hệ sinh thái rừng một cách đa dạng và phong phú gồm cả thực vật, động vật, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác.
Tuy nhiên, cây gỗ, tre nứa, thực vật hoặc hệ thực vật đặc trưng phải thỏa mãn điều kiện về độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên. Khái niệm bảo vệ rừng Bảo vệ rừng bao gồm tổng hợp các biện pháp để duy trì diện tích có rừng và phát huy các tác dụng tổng hợp của rừng. Theo giáo trình lâm sinh của trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh: “Bảo vệ rừng là thực hiện việc bảo vệ và kiểm soát một cách có hiệu quả tình trạng suy thoái rừng trên phạm vi cả nuớc, trong đó quy định cụ thể nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân khi khai thác sử dụng từng 5 loại rừng”. Tổ chức bảo vệ môi trường thế giới cho rằng, BVR “là hoạt động bảo đảm cho quá trình kiểm soát suy thoái tài nguyên rừng của tổ chức, cá nhân được tuân thủ một cách nghiêm ngặt có định hướng”.
Từ những quan điểm trên, nghiên cứu nội dung của BVR và trên quan điểm luật học, luận văn khái quát khái niệm BVR như sau: Bảo vệ rừng là hoạt động của các chủ thể pháp luật nhằm thực hiện các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn, làm giảm nhẹ các thiệt hại đến rừng và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng. Pháp luật xã hội chủ nghĩa là hệ thống quy phạm pháp luật thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng, thể hiện ý chí của nhân dân, được nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện trên cơ sở giáo dục, thuyết phục, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Pháp luật về BVR với tư cách là một bộ phận của hệ thống pháp luật Việt Nam; do đó có thể hiểu: Pháp luật về bảo vệ rừng là tổng hợp các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và bảo đảm thực hiện, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực bảo vệ rừng, thể chế hoá đường lối, chủ trương bảo vệ rừng của Đảng, mục đích quản lý, bảo vệ rừng của Nhà nước. Khái niệm phát triển rừng - Theo cách hiểu thông thường khái niệm phát triển rừng được hiểu như sau: Phát triển rừng là tổng hợp các biện pháp tổ chức, kinh tế để đẩy mạnh sản xuất sản phẩm rừng nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu xã hội, yêu cầu thị trường trên cơ sở sử dụng có hiệu quả các nguồn lực và đạt hiệu quả kinh tế cao.
- Khái niệm phát triển rừng với góc độ luật học: Theo khoản 3 Điều 3 Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004: “Phát triển rừng là việc trồng mới rừng, trồng lại rừng sau khai thác, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh phục hồi rừng, cải tạo rừng nghèo và việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh khác để tăng diện tích rừng, nâng cao giá trị đa dạng sinh học, khả năng cung cấp lâm sản, khả năng phòng hộ và các giá trị khác của rừng”. Pháp luật về phát triển rừng với tư cách là một bộ phận của hệ thống pháp luật Việt Nam; do đó có thể hiểu: Pháp luật về phát triển rừng là tổng hợp các quy 6 phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và bảo đảm thực hiện, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực phát triển rừng, thể chế hoá đường lối, chủ trương bảo vệ rừng của Đảng, mục đích quản lý, bảo vệ rừng của Nhà nước. Phân loại rừng 1. Phân loại rừng căn cứ vào mục đích sử dụng Thứ nhất là rừng phòng hộ: Theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 quy định "Rừng phòng hộ được sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất chống xói mòn, chống sa mạc hóa, hạn chế thiên tai, điều hòa khí hậu, góp phần bảo vệ môi trường" [30].
Rừng phòng hộ đầu nguồn là nơi phát sinh hoặc bắt đầu nguồn nước tạo thành các dòng chảy cấp nước cho các hồ chứa trong mùa khô, hạn chế lũ lụt, chống xói mòn và bảo vệ đất. Rừng phòng hộ gồm những rừng có sẵn trong tự nhiên, chủ yếu là rừng hỗn giao gồm nhiều tầng, không đều tuổi, mật độ dày, có dễ sâu, bền, chắc; rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay là rừng phòng hộ ven biển được thành lập với mục đích chống gió hạn, cát bay, ngăn chặn sự xâm mặn của biển; rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển là rừng phòng hộ ven biển được thành lập với mục đích chống sóng lấn biển, chống sạt lở, bảo vệ các công trình ven biển; rừng phòng hộ bảo vệ môi trường nhằm mục đích điều hòa khí hậu, chống ô nhiễm môi trường trong các khu dân cư, khu đô thị và khu du lịch [60]. Thứ hai là rừng đặc dụng: Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 quy định: Rừng đặc dụng được sử dụng chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng của quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng; nghiên cứu khoa học; bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh; phục vụ nghỉ ngơi, du lịch, kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường, bao gồm: Vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên gồm khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài - sinh cảnh; khu bảo vệ cảnh quan gồm khu di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh; khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học [30]. 7 Thứ ba là rừng sản xuất: Theo quy định tại khoản 3 Điều 4 Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 quy định: Rừng sản xuất được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh gỗ, lâm sản ngoài gỗ và kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường, bao gồm: rừng sản xuất là rừng tự nhiên; rừng sản xuất là rừng trồng; rừng giống gồm rừng trồng và rừng tự nhiên qua bình tuyển, công nhận [30].
Mục đích của rừng sản xuất để phát triển kinh doanh, sản xuất đồng thời góp phần vào gìn giữ và bảo vệ môi trường. Tùy từng loại rừng sản xuất là rừng tự nhiên hay rừng trồng mà được đưa vào sử dụng để quản lý, kinh doanh bảo vệ và phát triển. Như vậy tùy theo mục đích sử dụng mà pháp luật quy định về việc phân loại rừng. Rừng phòng hộ thì được sử dụng để bảo vệ hệ sinh thái, bảo vệ cuộc sống con người.
Rừng đặc dụng được sử dụng với mục đích bảo tồn thiên nhiên. Rừng sản xuất được sử dụng với mục đích sản xuất, phát triển kinh doanh đồng thời kết hợp với bảo vệ môi trường. Phân loại rừng căn cứ theo nguồn gốc hình thành Ngoài cách phân loại trên pháp luật Việt Nam, mà cụ thể là tại Điều 5, Điều 6, Điều 7, Điều 8 Thông tư số 34/2009/TT-BNNPTNT ngày 10/06/2009 của Bộ NN&PTNT quy định tiêu chí xác định và phân loại rừng thì rừng còn phân loại theo nguồn gốc hình thành như sau: Rừng được phân thành hai loại là rừng tự nhiên là có sẵn trong tự nhiên hoặc phục hồi bằng tái sinh tự nhiên và rừng trồng là rừng được hình thành do con người trồng; phân loại rừng theo điều kiện lập địa thì bốn loại là rừng núi đất, rừng núi đá, rừng ngập mặn và rừng trên cát; phân loại rừng theo các loại cây thì gồm bốn loại, rừng gỗ là loại rừng bao gồm chủ yếu các loại cây thân gỗ trong đó có rừng cây lá rộng; rừng tre nứa; rừng cau dừa và rừng hỗn giao tre nứa; phân loại theo trữ lượng thì được phân loại đối với rừng gỗ gồm các loại rừng là rừng rất giàu: trữ lượng cây đứng trên 300 m3/ha; rừng giàu: trữ lượng cây đứng từ 201 - 300 m3/ha; rừng trung bình: trữ lượng cây đứng từ 101 - 200 m3/ha; rừng nghèo: trữ lượng cây đứng từ 10 đến 100 m3/ha; rừng chưa có trữ lượng: rừng gỗ đường kính bình quân < 8 8 cm, trữ lượng cây đứng dưới 10 m3/ha. Ngoài ra đối với rừng tre nứa thì rừng được phân theo loài cây, cấp đường kính và cấp mật độ [5].
Như vậy, tùy theo nguồn gốc hình thành, rừng được phân thành các loại như rừng tự nhiên, rừng trồng, rừng núi đất, rừng núi đá, rừng ngập mặn, rừng trên cát.và cách phân loại này đã thể hiện được cụ thể các loại rừng ở nước ta hiện nay. Vai trò của bảo vệ và phát triển rừng theo pháp luật Vai trò của thực hiện pháp luật thể hiện ở nhiều mức độ khác nhau tuỳ thuộc vào từng loại đối tượng và từng loại quan hệ xã hội cụ thể cần có sự điều chỉnh của pháp luật. Nghiên cứu về thực hiện pháp luật về BV&PTR tại Quảng Nam, vai trò đó được thể hiện rõ nét trong các vấn đề sau: 1. Bảo vệ và phát triển rừng theo pháp luật góp phần phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh và trật tự xã hội trên địa bàn Pháp luật về BV&PTR sẽ được bảo đảm thực hiện khi kinh tế xã hội vùng núi phát triển, an ninh quốc phòng, trật tự chính trị, an toàn xã hội được bảo đảm.