Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN DU LỊCH, PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN DU LỊCH 1. Những vấn đề chung về bảo vệ tài nguyên du lịch 1. Tài nguyên du lịch Theo tác giả Phạm Trung Lương và Đặng Duy Lợi đã định nghĩa trong cuốn sách “Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam” thì “Tài nguyên hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các nguồn nguyên liệu, năng lượng và thông tin có trên Trái đất và trong không gian vũ trụ liên quan, mà con người có thể sử dụng phục vụ cho cuộc sống và sự phát triển của mình” [10, tr. Trần Đức Thanh thì: Tài nguyên là tất cả những nguồn thông tin, vật chất, năng lượng được khai thác phục vụ cuộc sống và sự phát triển của xã hội loài người.
Đó là những thành tạo hay tính chất của thiên nhiên, những công trình, những sản phẩm do bàn tay khối óc của con người làm nên, những khả năng của loài người,… được sử dụng phục vụ cho sự phát triển kinh tế và xã hội của cộng đồng [21, tr. Như vậy, tài nguyên có thể được hiểu là những gì thuộc về tự nhiên, hay là những sản phẩm do con người tạo ra, có thể được con người sử dụng vào phát triển kinh tế và xã hội để tạo ra hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường trong quá trình phát triển của xã hội loài người. Xã hội loài người ngày càng phát triển, nhu cầu đời sống ngày càng tăng kéo theo nhu cầu khai thác tài nguyên phục vụ cho các hoạt động phát triển cũng ngày càng tăng cao. Mỗi ngành nghề khác nhau lại có yêu cầu khác nhau trong khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên, nên việc phân chia các nhóm nguồn tài nguyên phục vụ cho từng lĩnh vực cũng có xu hướng ngày 7 càng cụ thể, chi tiết hơn.
Sự phân biệt rõ chức năng của mỗi nguồn tài nguyên phù hợp với từng lĩnh vực là nhằm giúp cho công tác quản lý các nguồn tài nguyên được thuận lợi, hiệu quả hơn và tài nguyên du lịch cũng được tiếp cận theo hướng đó. Nguyễn Minh Tuệ cho rằng: Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên và văn hóa lịch sử cùng các thành phần của chúng góp phần khôi phục, phát triển thể lực, trí tuệ của con người, khả năng lao động và sức khỏe của họ. Những tài nguyên này được sử dụng cho nhu cầu trực tiếp và gián tiếp, cho việc sản xuất dịch vụ du lịch [23, tr. Luật Du lịch năm 2005 quy định: Tài nguyên du lịch được hiểu là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch [14, Điều 4, Khoản 4].
Tài nguyên du lịch gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn đang được khai thác và chưa được khai thác. Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch. Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch. Tài nguyên du lịch có thể thuộc sở hữu nhà nước hoặc sở hữu của tổ chức, cá nhân.
Tài nguyên du lịch tự nhiên Tài nguyên du lịch tự nhiên là các đối tượng và hiện tượng trong môi trường tự nhiên bao quanh chúng ta được khai thác sử dụng để phục vụ cho 8 hoạt động du lịch. Các tài nguyên du lịch tự nhiên luôn gắn liền với các điều kiện tự nhiên, điều kiện lịch sử, văn hóa, kinh tế, xã hội, được khai thác đồng thời với tài nguyên du lịch nhân văn.Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm: - Tài nguyên địa hình Địa hình là thành phần quan trọng của tự nhiên, nơi diễn ra các hoạt động của con người. Đối với hoạt động du lịch, các dạng địa hình tạo nên phong cảnh, một yếu tố quan trọng để hình thành nên các tài nguyên khác. Các địa hình đặc biệt có sức hấp dẫn khách du lịch là: địa hình Karst, địa hình bờ biển, địa hình hải đảo,… Địa hình Karst: chiếm khoảng 60.000 km2 tập trung chủ yếu ở Việt Bắc, Tây Bắc, Đông Bắc và Bắc Trung Bộ, với các dạng Karst hang động, Karst ngập nước và Karst đồng bằng.
Địa hình Karst tạo nên những điểm du lịch hấp dẫn với hệ thống các hang động, núi đá vôi,… Địa hình bờ biển: Bờ biển nước ta dài khoảng 3.260 km với nhiều cảnh quan phong phú, đa dạng, có nhiều bãi tắm đẹp là một tiềm năng rất có giá trị cho du lịch biển, nghỉ dưỡng và vui chơi giải trí. Các bãi biển nổi tiếng như: Bãi Cháy (Quảng Ninh), Cát Bà (Hải Phòng), Sầm Sơn (Thanh Hóa), Văn Phong (Nha Trang), Mỹ Khê (Đà Nẵng)… Địa hình hải đảo: Nước ta có hơn 3.000 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó nhiều đảo có cảnh quan đẹp đã được đưa vào khai thác phục vụ du lịch như: Cô Tô (Quảng Ninh), Cát Bà (Hải Phòng), Côn Đảo (Bà Rịa - Vũng Tàu), Lý Sơn (Quảng Ngãi)…. - Tài nguyên khí hậu Tài nguyên khí hậu là sự tổng hợp các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, áp suất không khí, tốc độ gió, hướng gió, bức xạ nhiệt. Các yếu tố của khí hậu thay đổi theo không gian từ xích đạo đến hai cực, theo độ cao, theo thời gian (tính theo mùa), có mối quan hệ chặt chẽ với địa hình, vị trí địa lý, thủy văn và sinh vật, hoạt động sản xuất và đời sống của con người [25, tr.
9 Khí hậu bao gồm nhiệt độ, độ ẩm, áp suất, không khí, lượng mưa, gió, bức xạ mặt trời. Những nơi có khí hậu thích hợp với sức khỏe con người, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch. Tài nguyên khí hậu phục vụ cho phát triển các loại hình du lịch và quyết định tính thời vụ của nhiều loại hình du lịch. - Tài nguyên nước Tài nguyên nước bao gồm nước mặt và nước ngầm.
Đối với hoạt động du lịch thì nguồn nước mặt có ý nghĩa rất to lớn, bao gồm: đại dương, biển, hồ, sông, suối, thác,… Nước mặt góp phần tạo môi trường không khí mát mẻ, thoáng, tạo phong cảnh đẹp. Các mặt nước ven bờ như bãi biển, ven hồ, các dòng sông thường được sử dụng để tắm, phát triển các hoạt động thể thao dưới nước. So với nước mặt, nước ngầm bao gồm các điểm nước khoáng, suối nước nóng là tài nguyên thiên nhiên quý giá để phát triển các loại hình du lịch nghỉ dưỡng, chữa bệnh. Trong đó, nước khoáng là nước thiên nhiên chứa một số thành phần vật chất đặc biệt, các nguyên tố hóa học, các khí, các nguyên tố phóng xạ và có tính chất vật lý như nhiệt độ cao, độ Ph có tác dụng sinh lý với con người.
- Tài nguyên sinh vật Tài nguyên sinh vật bao gồm nguồn động vật, thực vật tiêu biểu có thể phục vụ phát triển du lịch. Ngày nay, khi áp lực từ cuộc sống, công việc ngày càng tăng khiến cho con người thường rơi vào trạng thái bức bối, căng thì nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí ngày càng trở nên cấp thiết cùng với thị yếu đi du lịch ngày càng phong phú. Du khách mong muốn được chiêm ngưỡng những cảnh quan sinh thái, những hệ động, thực vật phong phú, mang tính thẩm mĩ cao để thỏa mãn tính giải trí, có được cảm giác thư thái. Trong hoạt động tham quan du lịch thì tài nguyên sinh vật có ý nghĩa đặc biệt, chính nó có thể mang đến cho những người chiêm ngưỡng, tận hưởng 10 nó cảm giác thoải mái tinh thần, thỏa mãn trí tò mò của họ.
Điều đó là nguyên nhân chính thu hút khách du lịch, vì thế tính đa dạng sinh học sự bảo tồn được nhiều nguồn gen, tạo phong cảnh đẹp, thơ mộng cần được bảo vệ, tu bổ và khai thác hợp lý để phát triển bền vững. Tài nguyên du lịch nhân văn Tài nguyên du lịch nhân văn là các đối tượng và hiện tượng xã hội cùng các giá trị văn hóa, lịch sử của chúng có sức hấp dẫn du khách và được khai thác để kinh doanh du lịch. Tài nguyên du lịch nhân văn được chia thành hai loại là tài nguyên du lịch nhân văn vật thể và tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể: - Tài nguyên du lịch nhân văn vật thể Tài nguyên du lịch nhân văn vật thể là các di tích lịch sử văn hóa - những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó chứa đựng các giá trị điển hình lịch sử, do tập thể hoặc cá nhân con người hoạt động sáng tạo ra để lại. Theo các giá trị khác nhau, các di tích lịch sử văn hóa được đánh giá, xếp hạng theo các cấp bậc khác nhau.
Di sản văn hóa được coi là sự kết tinh của những sáng tạo văn hóa của một dân tộc. Các di sản văn hóa khi được công nhận là các di sản văn hóa thế giới của quốc gia thì sẽ trở thành nguồn tài nguyên du lịch nhân văn vô giá, có sức hấp dẫn khách du lịch, đặc biệt là khách du lịch quốc tế như: Cố đô Huế, Phố cổ Hội An,… Bên cạnh đó, còn có các di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia và địa phương. Di tích khảo cổ học là các di khảo cổ có thể bị vùi lấp trong lòng đất hoặc ở trên mặt đất bao gồm di chỉ mộ táng, những công trình kiến trúc cổ. Các di tích lịch sử văn hóa là những công trình ghi nhận các sự kiện, các địa điểm lịch sử tiêu biểu của các dân tộc trong quá trình phát triển lịch sử của mình.
Các di tích văn hóa nghệ thuật là các di tích gắn với các công trình kiến trúc có giá trị, những di tích này chứa cả những giá trị kiến trúc nghệ thuật và những giá trị văn hóa phi vật thể. 11 Trong số các tài nguyên du lịch nhân văn thì các di sản văn hóa có vị trí đặc biệt. Các di sản văn hóa được chia thành di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể.