Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam sở hữu nguồn tài nguyên du lịch phong phú với đường bờ biển dài 3.260 km, hơn 3.000 hòn đảo lớn nhỏ và khoảng 60.000 km2 địa hình karst đá vôi độc đáo. Theo báo cáo của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), du lịch đóng góp tới 45% kim ngạch xuất khẩu của các quốc gia đang phát triển và là một trong 10 ngành kinh tế trọng yếu thúc đẩy tiến trình xanh hóa nền kinh tế toàn cầu. Tại Việt Nam, du lịch đã khẳng định vai trò là ngành kinh tế mũi nhọn, song quá trình khai thác ồ ạt phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh đang tạo ra những xung đột gay gắt đối với việc gìn giữ môi trường và các giá trị di sản. Các quy định pháp lý hiện hành, trọng tâm là Luật Du lịch năm 2005, bộc lộ nhiều điểm bất cập, chưa kịp thời điều chỉnh các hành vi xâm hại di tích và suy thoái cảnh quan thiên nhiên.

Luận văn thạc sĩ luật học chuyên ngành Luật Kinh tế của tác giả Nguyễn Thị Như Huyền tập trung giải quyết mục tiêu nghiên cứu cụ thể: Làm rõ hệ thống cơ sở lý luận về bảo vệ tài nguyên du lịch; phân tích, đánh giá toàn diện thực trạng pháp luật và hiệu quả thi hành pháp luật tại Việt Nam giai đoạn 1960 - 2014; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý. Phạm vi nghiên cứu bao quát trên toàn lãnh thổ Việt Nam, khảo sát tiến trình lập pháp qua hai giai đoạn then chốt gồm 1960 - 1999 và từ năm 1999 đến năm 2014. Ý nghĩa nghiên cứu thể hiện ở việc cung cấp luận cứ khoa học chuẩn xác, góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với hơn 40.000 di tích và danh lam thắng cảnh trên toàn quốc, đồng thời định hướng xây dựng luật pháp thích ứng với yêu cầu phát triển bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết quản lý nhà nước bằng pháp luật trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và lý thuyết phát triển du lịch bền vững gắn với kinh tế học tài nguyên. Dưới góc độ pháp lý, tài nguyên du lịch được định vị là một loại hàng hóa công cộng đặc thù, phục vụ nhu cầu hưởng thụ tinh thần chung của xã hội, đòi hỏi Nhà nước phải giữ vai trò nhạc trưởng thống nhất quản lý và điều tiết quyền khai thác. Nghiên cứu triển khai mô hình tương tác đa chủ thể, xác định mối quan hệ ràng buộc trách nhiệm giữa 3 nhóm: cơ quan quản lý nhà nước, chủ thể kinh doanh du lịch và cộng đồng dân cư cùng du khách.

Khung lý thuyết của đề tài xoay quanh 3 khái niệm cốt lõi:

  • Tài nguyên du lịch tự nhiên: Bao gồm địa hình, khí hậu, thủy văn và hệ sinh thái sinh vật có giá trị thẩm mỹ, y học và nghỉ dưỡng.
  • Tài nguyên du lịch nhân văn: Gồm các di sản văn hóa vật thể (di tích lịch sử, công trình kiến trúc) và phi vật thể (lễ hội, phong tục, làng nghề truyền thống) theo quy định của Luật Di sản văn hóa năm 2001.
  • Pháp luật bảo vệ tài nguyên du lịch: Tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình khai thác, sử dụng, bảo tồn và tôn tạo tài nguyên nhằm ngăn chặn các hành vi xâm phạm và bảo đảm tính bền vững.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập từ hơn 25 văn bản quy phạm pháp luật chủ chốt được ban hành từ năm 1960 đến năm 2014. Nổi bật là Pháp lệnh Du lịch năm 1999 gồm 9 chương 56 điều, Luật Du lịch năm 2005 gồm 11 chương 88 điều, Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, Luật Di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), cùng các văn bản hướng dẫn như Nghị định số 76/2013/NĐ-CP và Quyết định số 23/2014/QĐ-TTg.

Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích với 5 nhóm tài nguyên trọng điểm (biển đảo, rừng đặc dụng, hang động karst, di tích tâm linh và làng nghề truyền thống) cùng 3 nhóm chủ thể pháp lý điển hình trên phạm vi 63 tỉnh, thành phố. Cỡ mẫu tài liệu bao gồm 100% các đạo luật chuyên ngành có liên quan đến bảo vệ tài nguyên môi trường trong hoạt động du lịch.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích quy phạm kết hợp so sánh luật học và thống kê thực tiễn là nhằm nhận diện chính xác các điểm nghẽn, sự mâu thuẫn hay khoảng trống pháp lý giữa Luật Du lịch với các đạo luật chuyên ngành khác. Timeline nghiên cứu bao quát chuỗi dữ liệu lập pháp xuyên suốt 54 năm, từ khi ngành Du lịch Việt Nam thành lập năm 1960 cho đến năm 2014.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, thể chế pháp lý đã có bước chuyển dịch quan trọng từ Pháp lệnh Du lịch năm 1999 (56 điều) sang Luật Du lịch năm 2005 (88 điều), tạo lập hành lang pháp lý điều chỉnh 4 nhóm quan hệ xã hội cơ bản trong hoạt động du lịch. Tuy nhiên, hơn 40% quy định về quản lý tài nguyên trong Luật Du lịch vẫn mang tính tuyên ngôn chung chung, thiếu các quy chuẩn kỹ thuật cụ thể để áp dụng trực tiếp.

Thứ hai, tình trạng xâm hại tài nguyên tự nhiên và nhân văn diễn ra hết sức phức tạp tại nhiều địa phương. Báo cáo thực tế chỉ ra hơn 30% các vụ việc biến dạng di tích xuất phát từ hoạt động trùng tu tùy tiện (như tại chùa Trấn Quốc, chùa Kim Liên, đền Voi Phục tại Hà Nội) khi thay thế vật liệu truyền thống bằng gạch bê tông và sơn công nghiệp. Nhiều vụ trộm cắp cổ vật nghiêm trọng xảy ra, điển hình như vụ mất 3 pho tượng Phật bằng đồng tại chùa Chân Tiên.

Thứ ba, sự phân tán và chồng chéo về thẩm quyền quản lý giữa các cơ quan chức năng. Có tới 3 Bộ cùng tham gia quản lý tài nguyên du lịch (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), dẫn đến khoảng 25% các vụ việc vi phạm bị đùn đẩy trách nhiệm kiểm tra, xử lý.

Thứ tư, thiếu hụt cơ chế tài chính và trách nhiệm ràng buộc đối với doanh nghiệp lữ hành. Ước tính hơn 70% doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng góp kinh phí cho hoạt động bảo tồn, tôn tạo tài nguyên tại điểm đến do luật chưa có cơ chế bắt buộc.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các bất cập trên là mâu thuẫn giữa mục tiêu phát triển kinh tế ngắn hạn và yêu cầu bảo tồn di sản dài hạn. Nhiều địa phương sẵn sàng đánh đổi giá trị văn hóa và cảnh quan tự nhiên để thu hút các dự án nghỉ dưỡng thương mại. So sánh với các nguyên tắc của UNWTO (2013), hệ thống pháp luật Việt Nam chưa tiếp cận khái niệm sức tải du lịch (carrying capacity) và chưa chuẩn hóa quy trình đánh giá tác động môi trường du lịch chuyên ngành.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu các hành vi xâm hại tài nguyên du lịch: 55% do hoạt động cải tạo, xây dựng trái phép; 30% do ô nhiễm chất thải từ khách du lịch và dịch vụ lưu trú; 15% do các hành vi trộm cắp, phá hoại cổ vật. Bên cạnh đó, một bảng so sánh đối chiếu thẩm quyền xử phạt giữa 3 cấp chính quyền địa phương và lực lượng thanh tra chuyên ngành sẽ làm nổi bật sự chồng chéo trong cơ chế giám sát thực thi pháp luật.

Đề xuất và khuyến nghị

Để khắc phục triệt để các bất cập pháp lý và bảo vệ vững chắc tài nguyên du lịch, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

  1. Hoàn thiện quy định về thẩm quyền và trách nhiệm quản lý nhà nước: Ban hành văn bản sửa đổi Luật Du lịch năm 2005 nhằm phân định rõ ràng ranh giới quản lý giữa Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch với Ủy ban nhân dân các cấp; giảm 50% tình trạng chồng chéo thủ tục phê duyệt quy hoạch; giao Tổng cục Du lịch và Vụ Lữ hành quyền hạn kiểm tra, đình chỉ trực tiếp các dự án gây nguy hại tài nguyên. Mục tiêu thực hiện trong giai đoạn 2015 - 2018 do Chính phủ và Quốc hội chủ trì.

  2. Xây dựng và chuẩn hóa hệ thống quy chuẩn kỹ thuật tài nguyên: Ban hành bộ quy chuẩn quốc gia về đánh giá sức chứa du lịch và chỉ số bảo vệ môi trường sinh thái cho 100% khu du lịch quốc gia trọng điểm trước năm 2018, do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp Bộ Khoa học và Công nghệ thực hiện.

  3. Nâng cao chế tài xử phạt và trách nhiệm pháp lý: Tăng mức phạt tiền đối với các hành vi xâm phạm cảnh quan, hủy hoại di tích lên gấp 2 - 3 lần so với quy định tại Nghị định số 50/2002/NĐ-CP; bắt buộc áp dụng biện pháp bồi thường thiệt hại và phục hồi nguyên trạng 100% hiện trạng môi trường đối với tổ chức, cá nhân vi phạm. Cơ quan thực hiện gồm Thanh tra du lịch và Tòa án nhân dân các cấp.

  4. Thiết lập cơ chế tài chính xã hội hóa bảo tồn: Quy định nghĩa vụ trích nộp từ 1% đến 2% doanh thu hàng năm của các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành, lưu trú tại khu du lịch vào Quỹ bảo tồn và tái tạo tài nguyên du lịch địa phương. Thí điểm triển khai trong thời gian 24 tháng dưới sự điều phối của Bộ Tài chính và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị thực tiễn và lý luận cao, đặc biệt hữu ích cho 4 nhóm đối tượng:

  • Cơ quan lập pháp và cơ quan quản lý nhà nước về du lịch: Tổng cục Du lịch, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tại 63 tỉnh thành có thể sử dụng luận văn làm tài liệu tham khảo chính thống để rà soát, sửa đổi Luật Du lịch và ban hành các thông tư hướng dẫn quản lý điểm đến.
  • Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch, lữ hành và ban quản lý khu du lịch: Hỗ trợ các nhà quản lý nắm vững khung pháp lý, xây dựng quy chế vận hành nội bộ đạt chuẩn bảo vệ môi trường và phòng ngừa 100% các rủi ro pháp lý phát sinh trong khai thác tour.
  • Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên chuyên ngành Luật Kinh tế, Du lịch học: Đóng vai trò là tài liệu tham khảo chuyên khảo với hệ thống hơn 50 nguồn tài liệu chọn lọc và phương pháp luận lập pháp chặt chẽ.
  • Các tổ chức phi chính phủ và cộng đồng dân cư địa phương: Cung cấp cơ sở pháp lý để người dân tại các điểm du lịch thực hiện quyền giám sát xã hội, bảo tồn làng nghề truyền thống và bảo vệ sinh thái bản địa.

Câu hỏi thường gặp

Tài nguyên du lịch theo pháp luật Việt Nam bao gồm những loại nào? Theo Điều 4 Luật Du lịch năm 2005, tài nguyên du lịch gồm tài nguyên tự nhiên (địa hình karst 60.000 km2, 3.260 km bờ biển, khí hậu, sinh vật) và tài nguyên nhân văn (di tích lịch sử, lễ hội, làng nghề truyền thống). Đây là nguồn lực cơ bản định hình các khu du lịch trên cả nước.

Cơ quan nào chịu trách nhiệm chính trong việc quản lý và bảo vệ tài nguyên du lịch? Chính phủ thống nhất quản lý; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng Tổng cục Du lịch là cơ quan chuyên môn theo Nghị định số 76/2013/NĐ-CP và Quyết định số 23/2014/QĐ-TTg. Tại địa phương, Ủy ban nhân dân các cấp và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm trực tiếp.

Tại sao việc quy định chỉ số sức chứa du lịch lại mang tính cấp bách? Quy định sức chứa giúp kiểm soát lưu lượng khách, ngăn ngừa tình trạng quá tải làm suy thoái hơn 30% cảnh quan tự nhiên tại các điểm nóng du lịch. Thiếu công cụ pháp lý định lượng này sẽ khiến tài nguyên bị khai thác cạn kiệt và mất khả năng tự phục hồi.

Doanh nghiệp kinh doanh du lịch có những nghĩa vụ pháp lý bắt buộc nào đối với tài nguyên? Doanh nghiệp phải tuyệt đối tuân thủ quy hoạch điểm đến, niêm yết nội quy bảo vệ tài nguyên và không tổ chức chương trình gây tổn hại di sản. Nếu vi phạm, doanh nghiệp có thể bị xử phạt hành chính hoặc thu hồi giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế.

Hành vi xâm hại di tích, tài nguyên du lịch bị xử lý bằng những chế tài nào? Tùy mức độ vi phạm, cá nhân và tổ chức có thể bị xử phạt hành chính lên tới hàng chục triệu đồng, buộc bồi thường khôi phục 100% nguyên trạng, hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự nếu gây hủy hoại di sản quốc gia.

Kết luận

  • Luận văn đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận về bản chất pháp lý của tài nguyên du lịch như một loại hàng hóa công cộng đặc thù cần sự điều tiết của Nhà nước.
  • Hệ thống hóa toàn diện quá trình phát triển pháp luật bảo vệ tài nguyên du lịch Việt Nam qua 54 năm (1960 - 2014), đánh dấu bởi Pháp lệnh Du lịch năm 1999 và Luật Du lịch năm 2005.
  • Nhận diện chính xác 4 nhóm hạn chế lớn trong hệ thống văn bản quy phạm và thực tiễn xử lý vi phạm tại các khu, điểm du lịch.
  • Xây dựng hệ thống 4 giải pháp đồng bộ kết hợp giữa hoàn thiện quy định thẩm quyền, tiêu chuẩn kỹ thuật sức chứa và cơ chế tài chính bảo tồn.
  • Cung cấp nguồn luận cứ khoa học có giá trị cao đóng góp trực tiếp vào tiến trình sửa đổi toàn diện Luật Du lịch Việt Nam giai đoạn 2015 - 2020.

Công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Như Huyền là tài liệu học thuật tiêu biểu trong lĩnh vực Luật Kinh tế, đặt nền móng vững chắc cho tư duy lập pháp về phát triển du lịch bền vững. Quý độc giả, nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý hãy khai thác trọn vẹn giá trị công trình để đồng hành xây dựng nền du lịch Việt Nam văn minh, bền vững.