Lời mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo thì nội dung đề tài gồm 3 chương: Chƣơng 1: Lý luận chung về Ngân hàng thương mại và hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại. Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động cho vay thế chấp dành cho khách hàng cá nhân tại Techcombank Biên Hòa. Chƣơng 3: Nhận xét, đánh giá hoạt động cho vay thế chấp dành cho khách hàng cá nhân tại Techcombank Biên Hòa. 2 c CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VÀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI.
Tổng quan về ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm ngân hàng thương mại Theo Luật các tổ chức tín dụng (năm 2010): Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo qui định của Luật này nhằm mục đích lợi nhuận. Theo Luật Ngân hàng nhà nước: Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán. Như vậy, NHTM là tổ chức được thành lập theo qui định của pháp luật, kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, với hoạt động thường xuyên là nhận tiền gửi dưới nhiều hình thức khác nhau và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán cho các chủ thể trong nền kinh tế nhằm mục đích lợi nhuận.
Chức năng chủ yếu của ngân hàng thương mại - Chức năng trung gian tài chính Đây là chứa năng quan trọng nhất của NHTM, quyết định sự phát triển và mở rộng qui mô hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Trong chức năng này ngân hàng đóng vai trò là một định chế tài chính trung gian đứng ra tập trung nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi từ các tổ chức cá nhân trong nền kinh tế để điều chuyển cho các tổ chức cá nhân có nhu cầu về vốn, góp phần đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn, góp phần điều tiết vốn cho nền kinh tế. - Chức năng trung gian thanh toán Ngân hàng làm chức năng thanh toán khi nó thực hiện theo yêu cầu của khách hàng như trích một khoản tiền trên tài khoản tiền gửi để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào một khoản tiền gửi của khách hàng từ bán hàng hóa hoặc các khoản thu khác. Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt qua hệ thống ngân hàng góp phần tiết giảm chi phí và lượng tiền mặt trong lưu thông, đảm bảo an toàn trong thanh toán.
Việc lựa chọn phương thức thanh toán không dùng tiền mặt cho phép khách hàng thực hiện thanh toán nhanh chóng và hiệu quả, điều này góp phần tăng tốc độ lưu thông hàng hóa, tốc độ luân chuyển vốn và hiệu quả của quá trình tái sản xuất xã hội. Mặt khác, việc cung ứng các dịch 3 c vụ thanh toán không dùng tiền mặt giúp cho ngân hàng thu hút nhiều khách hàng mở tài khoản tại ngân hàng và do đó tạo điều kiện thu hút vốn tiền gửi. - Chức năng cung cấp các dịch vụ tài chính Sự ra đời và phát triển của thị trường tài chính tạo điều kiện cho NHTM đa dạng hóa việc cung cấp các dịch vụ tài chính cho thị trường tài chính với mục tiêu tối đa hóa thu nhập và lợi nhuận. Các dịch vụ tài chính mà NHTM cung cấp cho thị trường tài chính bao gồm: - Tư vấn tài chính: + Đánh giá khả năng vay mượn và nguồn thu nhập của dự án đầu tư.
+ Xây dựng một chương trình vay mượn trung và dài hạn. + Phát triển một chính sách quản lí nợ và các giải pháp cải thiện hạng mức tín nhiệm. + Nhận định tình hình và nhu cầu của thị trường về từng loại trái phiếu. + Rà soát khuôn khổ luật pháp liên quan tới việc vay nợ và các hình thức vay nợ của chính quyền địa phương.
- Môi giới tài chính: Hoạt động môi giới thể hiện qua các loại hình nghiệp vụ bao gồm: môi giới chứng khoán; tư vấn đầu tư chứng khoán; quản lí danh mục đầu tư và bảo lãnh phát hành. Trong đó nghiệp vụ bảo lãnh phát hành là nghiệp vụ đóng vai trò quan trọng. Vai trò của ngân hàng thương mại - Điều tiết nguồn vốn, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho nền kinh tế. Nhờ hoạt động của NHTM mà nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế được tập hợp lại thành nguồn vốn lớn phục vụ cho đời sống xã hội và phát triển kinh tế.
NHTM trở thành kênh chu chuyển vốn quan trọng trong nền kinh tế, cung ứng vốn cho các chủ thể, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển. - Tạo điều kiện thúc đẩy thị trường tài chính phát triển. Hoạt động của NHTM vừa mang tính cạnh tranh nhưng cũng vừa có tác động hỗ tương đến các hoạt động khác trong lĩnh vực tài chính. Khi NHTM ngày càng phát triển và hoàn thiện thì càng có nhiều dịch vụ hỗ trợ cho các hoạt động trên.
Ngược lại, sự phát triển đa dạng và phong phú của các sản phẩm trên thị trường tài chính sẽ tác động đến các sản phẩm kinh doanh của NHTM ngày càng phát triển, xuất hiện sự kết hợp và bán chéo sản phẩm của 4 c NHTM với các định chế tài chính khác như: công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán, công ty tài chính và quỹ đầu tư… góp phần gia tăng doanh số giao dịch trên thị trường tài chính. - Góp phần thực thi chính sách tiền tệ quốc gia. NHTW là cơ quan xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ, nhưng để thực thi chính sách tiền tệ NHTW phải sử dụng các công cụ sau: dự trữ bắt buộc, lãi suất, tái cấp vốn, thị trường mở…tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của NHTM, thay đổi tăng hoặc giảm khối lượng tiền tệ trong nền kinh tế, góp phần bình ổn lưu thông tiền tệ của quốc gia, kiểm soát lạm phát. Các nghiệp vụ chủ yếu của ngân hàng thương mại 1.
Nghiệp vụ huy động vốn Nghiệp vụ huy động vốn là nghiệp vụ tạo nên nguồn vốn của NHTM. - Vốn chủ sở hữu Vốn chử sở hữu là vốn thuộc quyền sở hữu của ngân hàng, do chử sở hữu của ngân hàng góp vào khi thành lập ngân hàng và được bổ sung trong quá trình hoạt động của ngân hàng từ vốn góp thêm của chủ sở hữu và từ lợi nhuận của ngân hàng. Vốn chủ sở hữu chiếm tỉ trọng nhỏ khoảng từ 5% đến 10% trong tổng nguồn vốn của NHTM, nhưng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của NHTM, quyết định năng lực tài chính, quy mô hoạt động và năng lực cạnh tranh của NHTM. Vốn chủ sở hữu là vốn không phải hoàn trả trong quá trình hoạt động nên vốn chủ sở hữu là thành phần vốn có tính ổn định và thông thường được sử dụng cho mục đích dài hạn.
- Vốn huy động Vốn huy động là vốn thuộc sở hữu của các chủ thể trong nền kinh tế, được ngân hàng tạm thời quản lý và sử dụng để kinh doanh trong một thời gian xác định sau đó sẽ hoàn trả lại cho chủ sỡ hữu. NHTM huy động vốn trong nền kinh tế bằng các nghiệp vụ: nhận tiền gửi không kì hạn, tiền gửi có kì hạn, nhận tiền gửi tiết kiệm, phát hành kì phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi và các công cụ nợ khác. Vốn huy động chiếm tỉ trọng lớn nhất trong nguồn vốn của NHTM, là nguồn vốn chủ yếu cho hoạt động kinh doanh của NHTM. Tuy nhiên, khi đến hạn ngân hàng phải hoàn trả cho 5 c chủ sở hữu cả vốn gốc và lãi nên huy động vốn là thành phần vốn có tính biến động.
Khi sử dụng nguồn vốn này NHTM phải thiết lập dự trữ để đáp ứng kịp thời nhu cầu thanh khoản. - Vốn vay Vốn vay là vốn thuộc sở hữu của các chủ thể trong nền kinh tế mà NHTM chủ động thỏa thuận sử dụng để bù đắp thiếu hụt thanh khoản tạm thời trong hoạt động kinh doanh. NHTM có thể vay từ các chủ thể khác nhau: vay từ các tổ chức tín dụng khác trong nước, vay từ các ngân hàng và các tổ chức tài chính nước ngoài, vay từ Ngân hàng trung ương. - Vốn khác Ngoài các nguồn vốn nêu trên, khi NHTM đi vào hoạt động tạo điều kiện phát sinh các nguồn vốn khác, chẳng hạn như: + Vốn tài trợ, ủy thác của các chủ thể trong và ngoài nước.
+ Vốn chiếm dụng phát sinh từ dịch vụ thanh toán trong nước, dịch vụ thanh toán quốc tế, đại lí kiều hối… + Vốn điều hòa trong hệ thống NHTM điều tiết nguồn vốn từ chi nhánh thừa sang chi nhánh thiếu vốn nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn, cân đối vốn trong toàn bộ hệ thống, đảm bảo thanh khoản. Nghiệp vụ sử dụng vốn Nghiệp vụ sử dụng vốn là nghiệp vụ phân phối nguồn vốn của ngân hàng nhằm đáp ứng cho nhu cầu vốn thiếu hụt của các chủ thể trong nền kinh tế, đồng thời góp phần mang lại thu nhập cho NHTM. Vốn của NHTM được phân phối qua các nghiệp vụ sau: - Mua sắm tài sản cố định Mua sắm tài sản cố định là nghiệp vụ sử dụng vốn đầu tiên của NHTM. Trong đó, NHTM sử dụng một phần vốn tự có để xây dựng trụ sở, văn phòng, hệ thống kho quỹ mua sắm các phương tiện, máy móc, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
- Thiết lập dự trữ NHTM thiết lập dự trữ theo yêu cầu của NHTW nhằm duy trì khả năng thanh khoản thường xuyên của NHTM. Ngoài việc thiết lập dự trữ theo qui định của NHTW, các NHTM cần phải tính toán, duy trì dự trữ vượt mức dưới các hình thức khác như: tiền mặt tại quỹ, tiền gửi tại các NHTM khác hoặc chứng khoán có tính thanh khoản cao. Việc tính toán xác 6 c định mức dự trữ hợp lí sẽ giúp cho ngân hàng đáp ứng kịp thời nhu cầu thanh toán cho khách hàng. - Cấp tín dụng: bao gồm các nghiệp vụ sau: + Cho vay: là nghiệp vụ cấp tín dụng trong đó NHTM chuyển giao cho khách hàng quyền sử dụng một số vốn bằng tiền trong một khoản thời gian xác định, khi kết thúc thời hạn cho vay khách hàng phải hoàn trả cho ngân hàng cả nợ gốc và lãi vay.
+ Chiết khấu giấy tờ có giá: là nghiệp vụ cấp tín dụng trong đó NHTM thỏa thuận mua lại giấy tờ có giá khi chưa đến hạn thanh toán từ người thụ hưởng.