CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG GỬI KHÁCH NHẬT BẢN 1. Một số đặc điểm về đất nước và con người Nhật Bản 1. Vị trí địa lý Nhật Bản nằm ở ngoài khơi phía Đông lục địa châu Á, chủ yếu nằm trong vùng khí hậu ôn đới. Là quần đảo dài theo hình vòng cung, được tạo thành từ 4 đảo lớn : Hokkaido, Honshu, Shikoku và Kyushu cùng vô số các đảo nhỏ (khoảng từ 3.700, tuỳ vào cách phân loại đảo, cù lao hay bãi đá).
Quần đảo Nhật Bản trải dài từ 2508‟ từ Bắc đến Nam và 3103‟ từ Đông sang Tây. Tiếp giáp với vùng biển Đông của Trung Quốc về phía Tây, đối diện với bán đảo Triều Tiên, Trung Quốc và Nga qua biển Nhật Bản và lục địa châu Mỹ bên kia bờ Thái Bình Dương. Diện tích Toàn bộ diện tích Nhật Bản là 377.873km2, bao gồm cả vùng lãnh thổ phía Bắc với các hòn đảo Habomai, Kunashiri, Iturup. Honshu là đảo lớn nhất với 221.000km2, Shikoku là đảo nhỏ nhất 19.000km2, hai đảo cỡ trung bình là đảo phía bắc Hokkaido 83.000km2 và đảo phía nam Kyushu 42.
Do địa hình nhiều núi nên Nhật Bản có rất ít đất để trồng trọt, chăn nuôi. Đất rừng chiếm 66,5% tổng diện tích đất, đất canh tác 12,3%, đất trồng cây ăn quả 1,1% và đất trồng cỏ 0,2%. Dân cư Nhật Bản là một trong những quốc gia đông dân nhất thế giới.000 triệu người (năm 2005), trong đó trên 99% là người gốc Nhật Bản. Người Việt Nam sinh sống tại Nhật Bản hơn 17.
Quy mô dân số đứng thứ 8 trên thế giới (tương đương với dân số Đức). Dân số thành thị chiếm 77,4%. Tỷ lệ nam 49,08% và nữ 50,92%. Tuổi thọ trung bình của hai 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giới 81,15 tuổi, cao nhất thế giới.
Cơ cấu dân số theo độ tuổi: 14,3% dân số ở độ tuổi 0-14; 66,2% ở độ tuổi 15-64 và 19,5% ở độ tuổi 65 trở lên. Sự lão hoá trong dân số Nhật Bản trở thành vấn đề cấp bách khi số lượng người già tăng trung bình ở mức 650. Nhật Bản có 8 thành phố lớn, đông dân nhất là Tokyo với trên 30 triệu dân. Các khu vực hành chính Nhật Bản được tạo thành từ các đơn vị hành chính được gọi theo các cách khác nhau là to, do, fu và ken.
Có 43 ken, 1 to, 2 fu và 1 do. Từ «ken» chỉ các đơn vị hành chính cấp tỉnh. Đảo Hokkaido được quản lý như một tỉnh mặc dù từ «do» được dùng riêng cho đơn vị hành chính đặc biệt này. Từ «to» nghĩa là thủ đô, được dùng cho Tokyo.
Từ «fu» nghĩa thành phố trực thuộc trung ương, dùng cho Osaka và Kyoto. Nước Nhật còn được chia thành 8 vùng, trải dài theo lãnh thổ từ Bắc xuống Nam: Hokkaido, Tohoku, Kanto, Chubu, Kinki, Chugoku, Shikoku và Kyushu. Bộ Tư pháp Nhật Bản thống kê công dân ra nước ngoài theo 8 vùng này. Kinh tế Nhật Bản là nước hết sức nghèo về tài nguyên trong khi dân số quá đông, phần lớn nguyên nhiên liệu phải nhập khẩu, kinh tế bị tàn phá kiệt quệ trong chiến tranh, nhưng với các chính sách phù hợp, kinh tế Nhật Bản đã nhanh chóng phục hồi (1945-1954), phát triển cao độ (1955-1973).
Từ 1974 đến nay tốc độ phát triển tuy chậm lại song Nhật Bản tiếp tục là nước có tiềm năng lớn thứ 2 trên thế giới về kinh tế, khoa học kỹ thuật và tài chính. Năm 2005, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) đạt 4.799 tỷ USD, đứng thứ hai thế giới sau Mỹ; tỷ lệ tăng trưởng GDP 2,5%. Thu nhập bình quân đầu người 37. Đây là điều kiện rất thuận lợi để người dân Nhạt Bản đi du lịch.
Du lịch – Gửi khách và chi tiêu du lịch quốc tế: Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), năm 2005 khách Nhật Bản ra nước ngoài là 17,404 triệu lượt. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhật Bản đứng thứ 3 khu vực (sau Trung Quốc và Malaixia), đứng thứ 15 trên toàn thế giới về gửi khách [34]. Năm 2006, lượng khách Nhật Bản ra nước ngoài tăng lên 17,535 triệu lượt. Khách du lịch Nhật Bản đã chi tiêu ở nước ngoài 37,5 tỷ USD (năm 2005), chi trả bình quân cho mỗi chuyến đi của khách Nhật Bản là 2.
– Nhận khách và thu nhập du lịch quốc tế: Năm 2006, Nhật Bản đón được 7,335 triệu lượt khách quốc tế, tăng 10,9% so với năm 2005, đứng thứ 7 trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương, với 4,3% thị phần khách của cả khu vực. Thu nhập du lịch quốc tế của Nhật Bản đạt 12,439 tỷ USD, tăng 10,4% so với năm 2004, đứng thứ 3 khu vực về thu nhập du lịch [33]. – Tác động của phát triển du lịch tới kinh tế - xã hội: Theo kết quả điều tra do Bộ Lãnh thổ, Cơ sở hạ tầng và Giao thông Nhật Bản (MLIT) tiến hành năm 2000, du lịch có vai trò quan trọng ngang với một số ngành công nghiệp hàng đầu của Nhật Bản như công nghiệp ô tô và điện tử. Đóng góp của ngành du lịch vào GDP là 2,2% trong khi tỷ lệ này của ngành ô tô là 2,3%, viễn thông 2,0%, điện tử 1,9%, nông nghiệp 1,5%.
Du lịch tạo ra 2,9% tổng số việc làm cho xã hội trong khi tỷ lệ này của một số ngành khác như điện tử 3%, tài chính/bảo hiểm 3%, thực phẩm 2,3% [32]. – Cân bằng cán cân thương mại trong du lịch: Nhật Bản luôn là nước nhập siêu. Lượng khách quốc tế đến Nhật Bản bằng khoảng 30% lượng khách Nhật đi ra nước ngoài du lịch. Thâm hụt cán cân thanh toán trong du lịch năm 2005 là 25,2 tỷ USD, giảm 3,3 tỷ so với năm 2000 [24].
Văn hoá – Tôn giáo chính là đạo Phật và đạo Shinto (Thần Đạo). 98% người Nhật tự coi mình là tín đồ của hai đạo giáo này. Nghi lễ tôn giáo tập trung vào các lễ hội theo mùa để cầu xin hoặc tạ ơn các vị thần linh, trời đất. Người Nhật tin vào tướng số, kiêng kị con số 9 và đặc biệt là số 4.
Trong tiếng Nhật, 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cùng phiên âm với số 4 và cũng có nghĩa là chết, cùng phiên âm với số 9 có nghĩa là đau đớn. Họ thích con số lẻ như 1, 3, 5,. Trong khách sạn, nhà hàng, trường học,. ở Nhật Bản số phòng đều có sự nhảy cóc bỏ qua số 4.
– Dân tộc Nhật Bản tiếp thu tích cực văn hoá bên ngoài. Dân tộc Nhật Bản thông minh, con người Nhật Bản cần cù, khôn ngoan. Họ rất yêu lao động, có thể nói lao động là đặc điểm quan trọng nhất trong tính cách dân tộc của người Nhật Bản. Khi làm việc theo nhóm, người Nhật luôn đúng giờ, tính kỷ luật cao, trung thành với nhân vật có uy quyền.
– Người Nhật coi trọng truyền thống của cộng đồng hơn truyền thống của cá nhân. Họ tôn trọng một cách khá thầm kín uy quyền của tinh thần Nhật Bản và sẵn sàng phục tùng mệnh lệnh. Trạng thái tâm lý hay sở thích theo đám đông khiến người Nhật Bản có thể dễ dàng từ bỏ ý định đi du lịch của mình nếu người khác không đi. – Người Nhật Bản rất mực lễ phép và tôn trọng nghi thức.
Cách chào hỏi truyền thống là cúi đầu chào, đầu cúi càng thấp thể hiện tình cảm càng nhiều, sự lễ phép và tôn kính càng cao. Người Nhật sợ nhất là bị mất mặt, bị xúc phạm, bị tai tiếng. Nguyên tắc sống của họ là “biết được chỗ cần dừng sẽ tránh được hiểm nguy, thấu hiểu thân phận mình tất khỏi bị sỉ nhục” [20]. Vì vậy, trong cuộc sống họ lịch lãm, chu tất, tính tự chủ rất cao, điềm tĩnh và ôn hoà.
Trong giao tiếp, họ thường nói vòng vèo, tìm cách lẩn tránh các từ “không”, “tôi không biết”, “tôi không thể”. Im lặng là dấu hiệu từ chối yêu cầu đối phương. – Dân tộc Nhật là dân tộc cười, họ cười mọi lúc mọi nơi, nụ cười của họ có rất nhiều ý nghĩa, họ cười trong cả lúc vui và lúc buồn. Người Nhật rất yêu thiên nhiên, đánh giá cao tính tự nhiên trong cảnh quan kiến trúc và các hình thức nghệ thuật khác.
Các công viên chuyên đề ở Nhật Bản được thiết kế sao cho giống tự nhiên và không đưa vào đó những dáng vẻ nhân tạo. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com – Người Nhật không quốc tế hoá lắm về ngôn ngữ. Khi ra nước ngoài, người Nhật sẽ hài lòng khi được đón chào bằng ngôn ngữ của họ. Họ sẽ chọn nơi họ đã đến lần trước nếu như họ được hài lòng.
Đây là đặc điểm mà ngành du lịch cần hết sức chú ý khi tìm cách thu hút khách du lịch Nhật Bản. – Đồ dùng của người Nhật thường là đồ gỗ, sàn nhà bằng gỗ hoặc trải thảm, ngừơi Nhật không kê bàn ghế trong nhà mà ngồi ở trên sàn. Khi vào nhà của người Nhật nhất thiết phải bỏ giày, áo khoác ở bên ngoài. Khi ngồi ở trong nhà, cách ngồi của người Nhật cũng khá đặc biệt, họ ngồi theo kiểu quỳ và xếp trên hai cẳng chân.
Hai màu tương phản đỏ và đen - màu sắc biểu hiện tính mạnh mẽ - được dùng chủ yếu trong trang trí nhà cửa. – Tặng quà là nét văn hoá lâu đời của người Nhật Bản. Khác với các nươc phương Tây, người Nhật tuyệt đối không bóc quà tặng trước mặt người tặng quà. Giấy gói quà phải phù hợp với hoàn cảnh tặng quà.
Ví dụ: màu trắng, đỏ thắm cho gặp mặt thông thường, màu vàng bạc cho đám cưới, màu xám đen cho chuyện buồn, tang lễ. Dây buộc có thể là 3,5,7,9 nhưng không được là số chẵn, nút buộc cuối cùng phải giống như con ngài tằm. Chính sách và quản lý phát triển du lịch ở Nhật Bản 1. Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch Bộ Lãnh thổ, Cơ sở hạ tầng và Giao thông Nhật Bản Năm 2001, Chính phủ Nhật Bản cơ cấu lại nội các.
Theo đó, bốn cơ quan quản lý nhà nước được sáp nhập trong Bộ Lãnh thổ, Cơ sở hạ tầng và Giao thông Nhật Bản (MLIT). Ban Du lịch được thành lập trong Cục Chính sách của MLIT, chịu trách nhiệm điều phối chính sách du lịch nhằm tạo thuận lợi cho ngành du lịch phát triển. Ban du lịch có 3 phòng: Kế hoạch, Phát triển vùng và Xúc tiến du lịch. Bên cạnh đó, Cục Giao thông của MLIT có trụ sở tại 10 vùng của Nhật Bản thành lập Phòng du lịch trong Cục để hỗ trợ Ban Du lịch ở trung ương.
9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cơ quan Du lịch Quốc gia Nhật Bản Được thành lập từ năm 1964, chịu giám sát của Bộ Giao thông khi đó.