mở đầu hay kết thúc cuộc thoại đều do một bên chủ động nêu ra. Cuộc thoại có một phần nữa được gọi là phần trung tâm, phần này nằm giữa phần mở thoại và phần kết thoại, đó là phần thân thoại. Tóm lại, cấu trúc khái quát của một cuộc thoại: Mở thoại – Thân Thoại – Kết thoại. Về cơ bản cấu trúc của một cuộc thoại là như thế.
Nhưng cũng có cách diễn tả khác về cấu trúc cuộc thoại trong tiếng Anh. Đó là Ventola cho rằng trong tiếng Anh cấu trúc của một cuộc thoại: chào – giới thiệu – nêu vấn đề nội dung chính – chuẩn bị kết thúc – (chào) từ biệt”. Thông thường chúng ta nhận biết ranh giới cuộc thoại, dấu hiệu mở đầu là lời chào hỏi, cùng với niềm vui gặp mặt. Dấu hiệu kết thúc là những câu hỏi: còn gì nữa không nhỉ, thế thôi nhé…kèm tâm trạng buồn vì phải chia tay.
Một số dấu hiệu như thế không thể xem là bắt buộc, nhất là cuộc thoại đối với những người thân quen. Như vậy, việc định ranh giới cuộc thoại chưa thật dứt khoát, ít nhiều còn mang tính võ đoán. Ví dụ: - Sp1:Chào! - Sp2: Chào! - Sp1: Bạn khỏe không? - Sp2: Tôi khỏe. Anh thế nào? - Sp1: Tôi cũng thường.
Đi ăn chứ? - Sp2: Không, tôi phải về. Hẹn khi khác. Tạm biệt! - Sp1: Tạm biệt! e 16 Cuộc thoại trên có mở đầu là lời chào hỏi, và kết thúc là lời tạm biệt, đây là một thoại chuẩn, có đoạn mở thoại, đoạn thân thoại và đoạn kết thoại. Đoạn thoại Đoạn thoại được quan niệm là một mảng diễn ngôn do một số cặp trao đáp liên kết chặt chẽ với nhau về ngữ nghĩa hoặc về ngữ dụng.
Về ngữ nghĩa đó là sự liên kết chủ đề: một chủ đề duy nhất và còn về ngữ dụng đó là tính duy nhất về đích. Nhiều đoạn thoại tạo thành cuộc thoại, có những đoạn thoại sau: đoạn mở thoại, đoạn thân thoại, đoạn kết thoại. Sự phân định đoạn thoại nhiều khi cũng dựa vào trực cảm và mang tính võ đoán. Đoạn thoại mở đầu và đoạn thoại kết thúc phần lớn được nghi thức hóa và lệ thuộc vào rất nhiều yếu tố như vào các kiểu cuộc thoại (hội đàm, thương thuyết, giao dịch thương mại, trò chuyện, bàn bạc, …) và vào hoàn cảnh giao tiếp, vào mục đích, thời gian, hoàn cảnh gặp gỡ, sự quen thuộc, sự hiểu biết về nhau, quan hệ thân thuộc giữa những nhân vật hội thoại.
Và chúng còn mang đậm dấu vết của nền văn hóa. Đoạn thoại mở đầu và kết thúc là hai đoạn thoại khác nhau nhưng đều bị chi phối bởi một nguyên tắc chung, đó là chuyển từ sự im lặng sang nói năng và ngược lại chuyển từ sự nói năng sang im lặng. Đoạn mở thoại đa phần là công thức hóa, mang nhều tính chất đưa đẩy ngoài việc phá vỡ tảng băng giữa các nhân vật, ngoài chức năng mở ra, đoạn thoại mở còn có chức năng thương lượng về đề tài diễn ngôn, thăm dò đối phương về nhiều mặt. Và thái độ giữa những người tham gia hội thoại (thân mật hay nghiêm túc, khách khí hay chân tình…).
Vậy, có thể nói trong đoạn mở thoại, người mở thoại tránh sự xúc phạm đến thể diện của người nghe, chuẩn bị tâm thế cho cuộc thoại. Nhưng, trong hội thoại cũng có những trường hợp người mở thoại cố tình khiêu khích người đối thoại nhằm mục đích nào đó. e 17 Đoạn kết thúc thoại vừa có chức năng kết thúc cuộc thoại vừa xác định cách chia tay. Có nhiều cách kết thúc như đưa ra lời xin lỗi, tổng kết cuộc thoại, cảm ơn, hứa hẹn, lời chúc… có những trường hợp ngoại lệ là kết thúc đột ngột, hay đơn phương kết thúc.
Tóm lại, đoạn mở thoại và đoạn kết thúc thoại có cấu trúc tương đối đơn giản, ổn định, dễ nhận ra hơn đoạn thân thoại, vì đoạn thân thoại có dung lượng nhiều hơn và có cấu trúc phức tạp hơn. Ví dụ: (1) - Sp1: Chào! - Sp2: Chào! (2) – Sp1: Chào nhé! - Sp2: Chào! (1) Là đoạn thoại mở đầu cuộc hoại, (2) là đoạn kết thoại. Ta thấy cấu trúc của đoạn mở thoại và kết thoại giống nhau, có chung kiểu kết cấu đơn giản, ngắn gọn. Cấu trúc Cặp thoại là đơn vị lưỡng thoại nhỏ nhất của một cuộc thoại do các tham thoại tạo thành.
Căn cứ vào đơn vị các tham thoại để phân loại cặp thoại: - Cặp thoại một tham thoại: hình thành khi người nghe im lặng, không trả lời, không có hành động cử chỉ nào. Cặp thoại một tham thoại được gọi là cặp thoại “hẫng”. Nghĩa là người nói (Sp1) không được người nghe (Sp2) hưởng ứng, hay hồi đáp bằng hành động tương ứng. - Cặp thoại hai tham thoại: là hình thức thường gặp nhất trong hội thoại.
Ở cặp thoại hai tham thoại, mỗi tham thoại thường ứng với một chức năng cụ thể: tham thoại thứ nhất được xem là “tham thoại dẫn nhập”, tham thoại thứ hai được gọi là “tham thoại hồi đáp”. Đây là dạng cấu trúc đơn giản nhất e 18 của cặp thoại trong giao tiếp hằng ngày. - Cặp thoại phức tạp: là cặp thoại có mặt nhiều tham thoại hoặc có thể có ít tham thoại nhưng lại có nhiều hành động ngôn ngữ trong quan hệ ràng buộc nhau. Cặp thoại phức tạp có các kiểu: a) Kiểu thứ nhất: cặp thoại có nhiều tham thoại dẫn nhập, nhưng chỉ có một tham thoại hồi đáp.
b) Kiểu thứ hai: cặp thoại có một tham thoại dẫn nhập, nhưng có nhiều tham thoại hồi đáp. c) Kiểu thứ ba: cặp thoại có nhiều tham thoại dẫn nhập và có nhiều tham thoại hồi đáp. Tính chất a) Cặp thoại chủ hướng, cặp thoại phụ thuộc Cặp thoại chủ hướng là cặp thoại chính có vai trò chủ đạo, trung tâm, chứa nội dung chính của cuộc thoại. Trong cuộc thoại ngoài cặp thoại chủ hướng, còn có nhiều cặp thoại không chủ hướng, nghĩa là nó không tồn tại độc lập mà phụ thuộc vào cặp thoại khác, nó được gọi là cặp thoại phụ thuộc.
Tính chất của cặp thoại phụ thuộc là có chức năng bổ trợ, giải thích thêm về những khía cạnh hay chi tiết nào đó của tham thoại trong cặp thoại chủ hướng. Cặp thoại phụ thuộc thường gặp là hai cặp thoại: cặp thoại củng cố và cặp thoại sửa chữa. b) Cặp thoại tích cực, tiêu cực Để xác định được tính chất của cặp thoại ta thường dựa vào tính chất của tham thoại mà chủ yếu là tham thoại hồi đáp. Tham thoại hồi đáp tích cực thì ta có cặp thoại tích cực.
Cặp thoại tích cực thỏa mãn đích dẫn nhập. Còn tham thoại hồi đáp mà tiêu cực, ta có cặp thoại tiêu cực. Cặp thoại tiêu cực nó nghịch hướng với đích dẫn nhập. Thông thường, khi có cặp thoại tích cực thì các đối ngôn sẽ thỏa mãn và e 19 dĩ nhiên có thể kết thúc cuộc thoại ở đó.
Nhưng với cặp thoại tiêu cực thì lại xảy ra khả năng sau: cuộc thoại vẫn kết thúc nhưng kết thúc trong tình trạng không thỏa mãn, trong bất đồng, bất hòa hay thất bại của người dẫn nhập, nên có thể sẽ xảy ra sự tái dẫn nhập với hi vọng của người nói muốn xoay chuyển từ tình thế tiêu cực sang tích cực, mong đạt được mục đích. - Cặp thoại tích cực: mời – nhận lời, hỏi - trả lời, ra lệnh – tuân lệnh, yêu cầu – chấp nhận, khen tặng- tiếp nhận… - Cặp thoại tiêu cực: mời – từ chối, yêu cầu – từ chối, khen tặng – khước từ, hỏi – hỏi lại… Ví dụ: - Sp1: Thôi! Thôi! Tôi xin kiếu!. Tôi đã giao hẹn tôi chỉ có hai đồng bạc. - Sp2: Dở lắm, thế tôi không phải hai đồng bạc à? - Sp1: Ừ! Thì mỗi người hai đồng bạc.
Còn thì cơm ai người ấy ăn. - Sp2: Nói chó cũng không ngửi được!. Ồ, nếu vậy thì mỗi ngày giả công tôi ba hào [60, tr. Đoạn thoại trên có bốn lượt lời được chia đều cho hai nhân vật giao tiếp.
lượt lời đầu tiên của Sp1 có năm tham thoại. Lượt lời đầu tiên của Sp2 có một tham thoại. Nhìn vào ta nhận ra đây là đoạn thoại tiêu cực. Bởi tham thoại của hai nhân vật đối lập nhau.
Một bên yêu cầu, nhưng bên kia không chấp nhận. Tham thoại Trong cuốn Đại cương ngôn ngữ học định nghĩa: “Tham thoại là phần đóng góp của từng nhân vật hội thoại vào một cặp thoại nhất định. Một lượt lời có thể có nhiều tham thoại” [11, tr. Cần có sự phân biệt giữa tham thoại với lượt lời: (1) – Sp1: Chào! (2) – Sp2: Chào! e 20 (3) – Sp1: Khỏe không Nam? (4) – Sp2: Tôi khỏe.
Còn anh thế nào? (5) – Sp1: Vẫn thường. Vào đây làm một ly? (6) – Sp2: Thôi. Hẹn khi khác. Tôi phải về đón con tan học.
Ta thấy (1) và (2) là một cặp thoại chào gồm hai tham thoại đối xứng. (3) và (4) là một cặp thoại, trong đó (3) là một lượt lời gồm một tham thoại hỏi. (4) là một lượt lời gồm hai tham thoại, một tham thoại đáp, một tham thoại hỏi. Một lượt lời có thể nhiều tham thoại như (5) và (6), trường hợp này tham thoại lớn hơn lượt lời.
Nhưng cũng có trường hợp tham thoại nhỏ hơn lượt lời, xét trường hợp sau: - Sp1: Cậu vừa đi Lạng Sơn về? - Sp2: Sầm Sơn chứ. Phát ngôn của Sp2 có tính điều chỉnh lại phát ngôn của Sp1 chứ không phải là lời đáp của câu hỏi Sp1, do đó hai phát ngôn này chưa thành một cặp thoại. Trường hợp trên lượt lời nhỏ hơn tham thoại. Tham thoại là đơn vị cơ sở dùng để cấu tạo nên cặp thoại.
Mỗi tham thoại có thể nằm trong quan hệ trao đáp theo hướng khác nhau. Nó vừa là tham thoại hồi đáp cho cặp thoại này, lại vừa đóng vai trò dẫn nhập cho một cặp thoại khác, từ đó sẽ dẫn đến các kiểu dạng cấu trúc tham thoại khác nhau. Nói cách khác, mỗi tham thoại thực hiện một chức năng dẫn nhập hay hồi đáp nhưng cũng có lúc kiêm nhiệm cả hai chức năng dẫn nhập và hồi đáp, khi đó gọi là tham thoại có chức năng kép. Về tổ chức nội tại, một tham thoại do một hay một số hành vi ngôn ngữ tạo nên.
Lúc đó sẽ có một hành vi chủ hướng và còn có thể có một hoặc một số hành vi phụ thuộc. Hành vi chủ hướng có chức năng chính, nòng cốt, nó quyết định hướng của tham thoại và quyết định hành vi đáp thích hợp của người đối thoại. Hành vi phụ thuộc giữ vai trò làm rõ lí do và bổ sung nghĩa e 21 cho hành động chủ hướng trong quá trình hội thoại.