Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm Truyện kỳ ảo và đặc trưng thể loại Truyện kỳ ảo (mà giai đoạn đỉnh cao là truyện truyền kỳ) là một thể loại văn xuôi độc đáo của văn học trung đại vùng Đông Á nói chung và Việt Nam nói riêng. Cái kỳ vốn là đặc thù tư duy của một giai đoạn lịch sử, là một phạm trù mỹ học của vùng văn hóa Đông Á cổ trung đại (bao gồm Trung Quốc - trung tâm văn hóa có ảnh hưởng trong cả vùng, Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam - một nước có vị trí địa lý ở vùng Đông Nam Á).“Những tác phẩm văn xuôi nổi tiếng nhất của văn học vùng đều chứa đựng trong nó những yếu tố kỳ ảo.
Cái kỳ lạ đầy rẫy trong các huyền thoại tôn giáo, trong văn xuôi lịch sử và là một đặc điểm của tư duy dân gian được phản ánh rõ nét trong thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích. Dưới góc độ thể loại, cái kỳ trong truyện kỳ ảo Đông Á không đơn giản chỉ là một yếu tố nghệ thuật mà còn là thế giới quan của cả một thời kỳ lịch sử lâu dài - một cách nhìn nhận thế giới” [34, tr. Đối với con người thời cổ trung đại, bên cạnh cuộc sống hiện thực, họ còn có đời sống tâm linh phong phú với các vị thần, với hương hồn người đã mất, với những điều huyền diệu siêu nhiên và một quan niệm sâu xa về thế giới bên kia.Quan niệm này xuất phát từ cái nhìn phi nhị nguyên luận trước vũ trụ của con người Đông Á thời trung đại. Ở đó không có sự phân chia rạch ròi giữa trần gian và thế giới siêu nhiên, thậm chí giữa chúng còn có sự tác động, ảnh hưởng lẫn nhau một cách nhân quả.
Tác giả Lê Nguyên Cẩn định nghĩa: “Cái kỳ ảo là một phạm trù của tư duy nghệ thuật, nó được tạo ra nhờ trí tưởng tượng và được biểu hiện bằng những yếu tố siêu nhiên, khác lạ, phi thường, độc đáo nó có mặt trong văn học dân gian, văn học viết qua các thời đại. Nó tồn tại trên trục thực - ảo và tồn tại độc lập, không hòa tan vào các dạng thức khác của trí tưởng tượng” [5, tr. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ c 11 Như vậy, có thế thấy, đặc trưng cơ bản của truyện truyền kỳ là các nhà văn đã sử dụng yếu tố kỳ ảo như một bút pháp nghệ thuật mang tính đặc trưng của thể loại. Việc tăng thêm kịch tính của yếu tố kỳ ảo góp phần phản ánh hiện thực một cách kín đáo.
Bên cạnh đó, yếu tố thực cũng góp phần không nhỏ trong việc tăng thêm tính chân thật cho câu chuyện - nền tảng của cho sự phát triển của yếu tố thần kỳ. Kế thừa di sản truyền kỳ của văn học trung đại, các nhà văn hiện đại theo sự phát triển của lịch sử xã hội đã tạo ra một thể loại văn học mới, các nhà nghiên cứu đề xuất bằng các tên gọi khác nhau: truyện kinh dị, truyện kỳ ảo, truyện quái dị , truyện ma quái, truyện kỳ quái, truyện quái đản, truyện huyền ảo.Những thuật ngữ này có sự tương đồng nhất định về nghĩa. Trong số các cách gọi đó thì truyện kỳ ảo có vẻ được sử dụng nhiều. Cái kỳ ảo trong văn học nghệ thuật đã trở thành đối tượng hấp dẫn, lôi cuốn giới nghiên cứu, phê bình văn học phương Tây.
Năm 1963, hiệp hội những người nghiên cứu văn học kỳ ảo được thành lập tại Bruxelles (thủ đô Bỉ), mục đích hợp tác nghiên cứu và công bố các phát hiện liên quan đến lĩnh vực này. Trong cuốn “Cái kỳ ảo trong sáng tác của Balzac” - tác giả Lê Nguyên Cẩn đã dùng “cái kỳ ảo “để chuyển dịch thuật ngữ tương đương bằng tiếng Pháp: Le Fantastique (tiếng Latinh: Phantasticus; tiếng Hi Lạp: Phantastikos). Còn cuốn từ điển Petit Pobert của Pháp “Cái kỳ ảo được sinh ra bởi sự tưởng tượng, cái không tồn tại trong thực tế, cái có tính tưởng tượng siêu nhiên”. Theo Từ điển Ngôn ngữ Pháp, “kỳ ảo” là tính từ, bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp, để chỉ những gì được tạo nên bởi chí tưởng tượng, chứ không tồn tại trong thực tế.
Như vậy, nội hàm thuật ngữ được xác định như sau: Cài kỳ ảo là sản phẩm của trí tưởng tượng, được tạo ra nhờ khả năng suy tưởng; ở đó cái siêu nhiên chiếm ưu thế. Đó là những cái không mang tính chân thực, chỉ tuân theo quy luật của tưởng tượng. Đó là cái kỳ quặc, dị thường, hư ảo, quái dị, siêu nhiên, kinh khủng, huyễn hoặc. Ở Việt Nam, trong cuốn Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên cho rằng: “Kỳ lạ, tựa như không có thật mà chỉ có trong tưởng tượng” [23].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ c 12 Nhà văn Ngô Tự Lập từng có nhận định trong bài viết Những đường bay của mê lộ (Về văn học kỳ ảo) trên Tạp chí Sông Hương số 128 (2009) cho rằng “Kỳ ảo, đó chính là mê lộ nghệ thuật”[16]. Như vậy, tác giả hình như muốn nhấn mạnh hơn đến yếu tố nghệ thuật đặc trưng của loại truyện này, nhấn mạnh đến cái kỳ ảo, cái hư cấu trong tác phẩm. Bên cạnh việc xuất hiện các yếu tố ly kỳ, hư cấu nhằm khơi gợi sự thu hút, tò mò của độc giả, những tác phẩm này còn mang đến cho độc giả những giá trị nhân văn to lớn. Khi xã hội có những thay đổi, văn hóa phương Tây, đặc biệt là văn học Pháp, đã dần thấm sâu vào tầng lớp tri thức trẻ tạo nên những đột biến mới về chất trong văn học thì truyện kỳ ảo vốn chịu ảnh hưởng nhiều của phương Đông cũng có những thay đổi theo.TS Vũ Thanh nhận định rằng "yếu tố thần kỳ là một đặc trưng quan trọng.
Có điều những câu chuyện dân gian ấy không còn giữ vai trò chủ chốt, trong các tác phẩm, vai trò chính bây giờ là nhân vật, được hình thành theo tư tưởng và sự đạo diễn của nhà văn”[33, tr. Tóm lại, yếu tố kỳ ảo xuất hiện trong truyện truyền kỳ có vai trò thực hiện sứ mệnh cách tân nghệ thuật về con người và thế giới của nhà văn, là một phương tiện hữu hiệu để thâm nhập vào thế giới vô thức của con người nơi mà lý trí không thể vươn tới. Khái niệm nhân vật, loại hình nhân vật và nhân vật phụ nữ trong văn học Nhân vật có một vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển cốt truyện, thông qua nhân vật, nhà văn phản ánh nội dung tư tưởng của tác phẩm và giúp người đọc khám phá hiện thực đời sống xã hội. Có nhiều cách để phân loại nhân vật nam, nữ: theo giới, theo loại hình, theo tư tưởng, theo tính cách.
Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận văn, khi nghiên cứu nhân vật nữ chúng tôi đi sâu tập trung khảo sát nhân vật nữ trên phương diện loại hình. Nhân vật người phụ nữ trong văn học trung đại cũng đã được chú ý phản ánh. Từ thế kỷ X đến XV, vì chịu sự chi phối của cảm hứng yêu nước, người phụ nữ và số phận của họ chưa được quan tâm. Điểm lại tình hình văn học trong giai đoạn này, chỉ có một số ít tác giả viết về người phụ nữ, có thể kể một vài sáng tác: Khuê oán (Niềm oán hận của người khuê phụ) - Trần Nhân Tông; Chinh phụ ngâm (Nỗi lòng người chinh phụ) - Đặng Trần Côn, Thánh Tông di thảo - Lê Thánh Tông; Việt điện u linh - Lý Tế Xuyên.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ c 13 Đến thế kỷ XVI, khi xã hội phong kiến Việt Nam bước vào giai đoạn khủng hoảng, đời sống nhân dân vô cùng khổ cực, lầm than.Trước thực tế ấy, các nhà văn, nhà thơ đã cất tiếng nói thương cảm, chia sẻ với những con người nhỏ bé trong xã hội, đồng thời lên án, phê phán giai cấp thống trị. Những vấn đề trong cuộc sống bước đầu của những người phụ nữ, từ tâm tư tình cảm đến những ham muốn, khát vọng đã thực sự được quan tâm. Số phận của họ trở thành hình tượng nổi bật của những sáng tác lúc bấy giờ. Truyền kỳ mạn lục là sự đấu tranh vượt qua mọi thử thách, bi kịch, giành lại cuộc sống và hạnh phúc của người phụ nữ.
Thế kỷ XVIII, với sự trỗi dậy của tư tưởng nhân đạo, người phụ nữ đã được nhìn nhận một cách công bằng, rộng rãi hơn. Họ đã được trả lại những quyền cơ bản của con người như quyền sống, quyền tự do yêu đương, quyền được hạnh phúc chính đáng. Cung oán ngâm khúc tố cáo chế độ cung nữ làm cho cuộc đời của biết bao cô gái tài sắc héo hắt lụi tàn trong cung vua, phủ chúa. Người cung nữ một thời kiêu hãnh, tự hào về nhan sắc nhưng lại hốt hoảng, cay đắng nhận ra sai lầm cuộc đời.
Thơ Hồ Xuân Hương tố cáo chế độ đa thê, trọng nam khinh nữ đã gây nên cho người phụ nữ không biết bao nhiêu là cay đắng, tủi hờn. Trong các tác phẩm của mình, Hồ Xuân Hương đã tạo nên hình tượng người phụ nữ trong thơ thật mạnh mẽ, có những lúc dám đương đầu với cả lễ giáo phong kiến, đấu tranh đòi nữ quyền. Đỉnh cao của văn học trung đại Việt Nam viết về người phụ nữ không thể bỏ qua tên tuổi của kiệt tác Truyện Kiều - Nguyễn Du. Vấn đề mà đại thi hào đặt ra trong thi phẩm là một vấn đề có sức bao quát lớn lao, đó là quyền sống của người phụ nữ trong xã hội phong kiến.
Thúy Kiều - nhân vật đại diện cho số phận người phụ nữ, người hội tụ tất cả những phẩm chất tốt đẹp: tài - sắc nhưng lại có một số phận đầy éo le, ngang trái, trớ trêu. Quan niệm Nho giáo và quan niệm đương thời về người phụ nữ Trong học thuyết Nho giáo, dễ nhận thấy vấn đề được nhắc đến nhiều nhất ở người phụ nữ là thuyết “tam tòng tứ đức”. Tư tưởng nhân bản này ca ngợi người phụ nữ, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ c 14 nhưng để nhận chân được giá trị đích thực của phái nữ trong gia đình, và ngoài xã hội cũng như đời sống tâm linh của họ thì học thuyết này chưa thể hiện được. Tam tòng là ba điều kiện mà người phụ nữ phải tuân thủ, làm theo: 1.
Tại gia tòng phụ, 2. Xuất giá tòng phu 3. Phu tử tòng tử. Tứ đức là: Công, dung, ngôn, hạnh.