Chương I NHỮNG TIỀN ĐÈ Li THUYET LIEN QUAN DEN DE TAL 1. Một số vấn đề về ngôn ngữ cử chỉ 1. Khái niệm ngôn ngữ cứ chỉ Ngôn ngữ cử chỉ còn có thể được gọi bằng những cái tên khác nhau như: ngôn ngữ cử chỉ điệu bộ, ngôn ngữ cơ thể, ngôn ngữ phi lời. yếu tố phi ngôn ngữ, hệ thống tín hiệu phi lời, phương tiện á ngữ học, ngôn hiệu,.
và chỉ ra những gì thuộc về loại phương tiện giao tiếp thuộc về (điệu bộ, vận động của tay, chân, nét mặt, tư thế, khoảng cách. Mặc dù có rất nhiều bài. viết, nhiều công trình nghiên cứu về loại ngôn ngữ cử chỉ, điệu bộ nhưng nhìn. chung chưa thấy có một định nghĩa cụ thê, đầy đủ cho khái niệm này.
“Trong cuốn “Đại cương về ngôn ngữ học” [4]. ở phần “Ngữ dụng học” Đỗ Hữu Châu quan niệm “yếu tố kèm lời” và “yếu tố phi lời" là những tín hiệu thường xuất hiện cùng yếu tố ngôn ngữ trong những cuộc đối thoại và hiểu chúng như sau: ~ Yếu tố kèm lời (paraverbal) là những yếu tố siêu đoạn tính nhưng đi kèm với yếu tố đoạn tính, đó là những yếu tố như ngữ điệu, trọng âm, cường. độ, độ dài, đỉnh giọng. ~ Yếu tố phi lời, theo giáo sư Đỗ Hữu Châu là: Cử chi, khoảng không gian, tiếp xúc cơ thể, tư thể cơ thẻ và định hướng cơ thẻ, vẻ mặt, ánh mắt.
được tính là ngôn ngữ phi lời các tín hiệu âm thanh như tiếng gd, tiếng kéo bàn, tiếng xô ghế, tiếng huýt sáo, tiếng còi v. Có thể kẻ cả vào đây trang phục, bài trí của thoại trường tức những tín hiệu âm thanh không nằm trong hệ thông ngữ âm, âm vị học của một ngôn ngữ.220] Xếp vào nhóm c¿ tín hiệu phi lời, theo Đỗ Hữu Châu là: + Các yếu tố cơ thể - vận động được tiếp nhận 12 thi giác là những hiện trong hội thoại như: sự thay đổi cử chỉ, điệu bộ, nét mặt, 12 sự thay đôi khoảng cách (không gian tương tác). tư thế của những người trỏ chuyện trong quá trình giao tiếp. + Các yếu tố tĩnh như điện mạo, trang phục,.cung cấp thông tin về giới tính, tuổi tác, dân tộc, thành phần xã hội.
tính 'h của người đối thoại. Những thông tin này bước đầu tạo ra thiện cảm hay gây ác cảm ở người đối thoại. + Các tín hiệu về không gian tương tác như tư thế của những người hội thoại, khoảng cách của họ cũng quan trọng đối với diễn bi: của cuộc. Theo Đỗ Hữu Châu, những yếu tố phi lời cũng là một loại tín hiệu có mặt trong các cuộc đối thoại.
dùng làm phương tiện giao tiếp, bên cạnh tín hiệu ngôn ngữ. Trong hội thoại, chúng là những yếu tố không thể bị loại 'bỏ khi giao tiếp bằng lời. Căn cứ vào bình diện “Ngữ dụng học”, Nguyễn Thiện Giáp đề cập: Giao tiếp phi lời là giao tiếp bằng toàn bộ cơ thể và các giác quan [10, tr. “Theo ông, bên cạnh những phương tiện bằng lời còn có những yếu tố phi lời.
Những yếu tố đó bao gồm như bối cảnh, diện mạo, cách ăn mặc, tư thế, điệu bộ, cử chỉ, khoảng cách. Tác giả nhắn mạnh, phân tích hội thoại cần nghiên cứu các yếu tổ phi lời. Người ta chỉ có thể hiểu được đầy đủ các cách sử dụng, tiếng Việt khi các yếu tố phi lời được nghiên cứu đầy đủ. Tác giả Trần Thị Nga trong công trình “Nghiên cứu đặc điểm văn hóa ngôn ngữ cử chỉ của người Việt” (2005) đã có một cách định nghĩa khá khái quát về ngôn ngữ cử chỉ như sau: Thưộc vẻ ngôn ngữ cứ chỉ điệu bộ của con người là tắt cả những điệu bộ, cứ chỉ mà con người đã sử dụng một cách có hay không cố ý trong khi giao tiếp với người khác.
Do tính độc lập và tính hiệu quả mạnh của phương tiện này nên khác với các phương tiện đi kèm khác trong. giao tiếp, trong nhiều điều kiện cụ thẻ của giao tiếp, cử chỉ 13 độc lập không có ngôn ngừ bằng lời đi kèm nhưng vẫn có nội dung tương tự. nh khi hiển ngôn hóa bằng lời. Chúng là những phù hiệu trong hoạt động giao tiếp và luôn gắn liền với ngôn ngữ bằng lời.
Định nghĩa của tác giả “Trần Thị Nga thiên về hướng làm rõ cách thức sử dụng ngôn ngữ cử chỉ trong. mỗi quan hệ với ngôn ngữ bằng lời. Dưới góc độ tgôn ngữ văn hóa, Nguyễn Quang trình bày: Cứ chỉ là các chuyển động của tay, chân, thân thẻ được ta sử dựng độc lập hoặc đi kèm ngôn từ khi giao tiếp với người khác nhằm nhẫn mạnh hay thay thế ngôn từ, kìm nén hay biểu lộ thái độ tình cảm và nhằm diễn tả suy tư của ta. Theo ông, ngôn ngữ cử chỉ là một phin nhỏ, một biểu hiện của ngôn ngữ phi lời “Xết theo mục đích nghiên cứu của luận văn là tìm hiểu ngôn ngữ cử chỉ đã được mô tả hóa bằng ngôn từ nghệ thuật trong tác phẩm văn chương của tác giả.
"Nam Cao, chúng tôi chọn khái niệm ngôn ngữ cử cÍ của tác giả Trần Thị Nga. để tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu đề tài: Thuộc vẻ ngôn ngữ cử chỉ điệu bộ của con người là tắt cả những điệu bộ, cử chỉ mà con người đã sử dụng. một cách cổ ý hay không có ý trong khi giao tiếp với người khác. Do tính độc lập và tính hiệu quả mạnh của phương tiện này nên khác với các phương tiện đi kèm khác trong giao tiếp, trong nhiều điều kiện cụ thể của giao tiếp, cử chỉ điệu bộ có.
thé ding độc lập không có ngôn ngữ bằng lời đi kèm nhưng vẫn có nội dung tương tự như khi hiển ngôn hóa bằng lời. Chúng là những phù hiệu trong hoạt động giao tiếp và luôn gắn liền với ngôn ngữ bằng lời. Phân loại ngôn ngữ cứ chỉ Ngôn ngữ cử chỉ của con người trong hoạt động giao tiếp vốn rất đa dang, phong phú cho nên việc liệt kê các biểu hiện của ngôn ngữ cử chỉ thật sự khó khăn, chưa nói đên việc phân loại chúng thành các nhóm theo các tiêu. chí khác nhau.
Tuy nhiên, chúng ta có thể tạm thời phân chia ngôn ngữ cử chỉ thành một số nhóm dựa trên các tiêu chí sau đây: 14 - Phân loại theo ý nghĩa biểu hiện của ngôn ngữ cử chỉ. ~ Phân loại theo các bộ phận thực hiện ngôn ngữ cử chỉ. ~ Phân loại theo mối tương quan của ngôn ngữ cử chỉ với ngôn ngữ bằng lời trong giao tiếp. Phân loại theo ý nghĩa biểu hiện của ngôn ngữ cử chỉ 'Công trình nghiên cứu của Paul Ekman và Wallace Friesen năm 1970 phân chia ý nghĩa của ngôn ngữ cơ thể thành S nhóm lớn như sau: a.
Ngôn ngữ cơ thể minh họa (Illustrators) Loại ngôn ngữ cơ thể này thường đi kèm lời nói, có chức năng làm công cụ hỗ trợ trực quan giúp diễn tả hoặc làm tăng sức thuyết phục cho thông. Trong phần lớn trường hợp, ngôn ngữ cử chỉ này là không có chủ ý. Ví dụ Thầy lẻ lưỡi ra: - Eo! Mẹ - Thật. Không có thế, cứ cỗ con ra mà chặt! Muốn mua thì mua, chang mua thi đừng, chứ cái sự đắt thì ngang ngang với nhân sâm.
(Trích Một đám cưới ~ trang 116) O vi du trén, ctr chi /é lưỡi của bố Dần thê hiện thái độ vừa ngạc nhiên, vừa là cảm giác sợ hãi khi nghe giá cả của chè tươi lại mắc như thế. Cử chỉ này thường đi kèm với lời nói một cách không có chủ ý của con người trong. Vídụ2 Bao nhiêu là thứ! Thị rén lên như người mắt cướp. Nhưng nó đã muốn thé thì mặc nó.
Thị cứ mua cho nó. Rồi bán gì đi mà trả nợ thì cứ bán. Còn thi ăn, hết thì nhịn. Bố ăn lắm thì con chết đói.
Cùng lắm thì bồng bế nhau đi ăn. Thi vita tho dai vita di. (Trích Trẻ con không được ăn thịt chó — trang 133) 15 Với vi dụ này, điệu bộ rên, thé dài của Thị biểu lô sự ngao ngắn, sự chán nản khi phải đối mặt với nghèo khó, chật vật của gia đình mà người chồng lúc nào cũng thích uống rượu và ăn thịt chó. Điệu bộ rên rỉ, thở dài kèm theo lời nói của mình, có thể nói đó là một điệu bộ không có chủ ý do chính cuộc sống nghèo khổ, cùng cực lâu ngày đã tạo thành thói quen ở những người nông dân (thường gặp ở phụ nữ).
Ngôn ngữ cơ thể biểu tượng (Emblems) Loại ngôn ngữ cơ thể này thường thay thế cho lời nói. Nếu điệu bộ này xuất hiện trong bối cảnh hay văn hóa tương đồng thì người nhận sẽ dễ đàng hiểu nhưng dễ thất bại nếu nó xuất hiện ở bối cảnh hay văn hóa không. Chang hạn: Cử chỉ ôm và hôn khi gặp gỡ. giao tiếp với đối phương ở các nước phương Tây thì đây là chuyện bình thường nhưng ở các nước Châu Á thì điều này không thể được.
Cử chỉ giơ ngón tay cái hướng lên ở Châu Âu được hiểu là lời khen ngợi “Tuyệt vời” hay “Khá lắm”; nhưng ở. một số nước Trung Đông, châu Mỹ La Tỉnh hay Châu Phi thì cử chỉ này đồng nghĩa với việc đang lăng mạ người khác. Ngôn ngữ cơ thể phô bày cảm xúc (Affeet displays) Đây là những động tác thể hiện cảm xúc tích cực hay tiêu cực và thường vô thức. Ví dụ 4: - Đôi! Bu ơi! Đối.
Tức khắc những đứa kia cũng nhớ ra rằng chúng đói. Chúng không muốn bắt chấy cho mẹ nữa. Chúng ơhở đài. Chúng nưốt bọt nhem nhép.
Chúng rhừ mặt ra. Chúng nằm ẹp xuống đất và lật áo lên đề khoe cái bụng. 'Bụng đứa nào cũng gần dính lưng. những cử chỉ trên thể hiện tâm trạng chờ đợi buồn chắn, mòn mỏi của bọn trẻ đợi người bố cùng những người bạn của mình uống rượu, ăn thịt chó ở nhà trên khi nào còn dư thì đến lượt chúng.
Bụng bọn chúng đã đói meo mà vẫn chưa nghe tiếng bố gọi dọn mâm xuống. Ví dụ§: TTrán vợ Điền hóa phẳng phiu, mặt thị tươi hẳn. Thị cúi xưng đứa con nhỏ, đồng thời ngước đôi mắt âu yếm nhìn con lớn. Đứa con lớn cười với thị.
Thị cười với nó. Thị cưởi với chồng. Điền nhìn vợ, nhìn con, lòng sung sướng. Điền mỉm cưởi với giãng.
(Trích Giăng sáng — trang 232) Tắt cả những cử chỉ của vợ, của con và của Điền ở ví dụ trên thể hiện sự sung sướng của Điền khi thấy cả gia đình vui vẻ, hòa thuận cùng nhau ngồi trên bộ ghế mây đặt ngoài sân và cùng ngắm trăng.