Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung, chính của luận văn gồm ba chương chính. Chương l: Cơ sở lí thuyết của đề Chương 2: Đặc điểm cấu tạo từ ngữ nghề bánh truyền thống ở Nam Bộ Chương 3: Đặc điểm định danh và đặc trưng văn hóa thể hiện qua từ ngữ nghề bánh Nam Bộ 12 Chuong 1 CO SG Li THUYET CUA DE TAL 1.1, NHUNG VAN DE CHUNG VE TU NGO" 1. Khái quát về từ 1. Quan niệm về từ.
Từ là đơn vị trung tâm, sẵn có, tồn tại hiển nhiên trong ngôn ngữ. “Trong ngôn ngữ học, từ là đối tượng nghiên cứu của nhiều cấp độ khác nhau như: cấu tạo từ, hình thái học, ngữ âm học, phong cách học. Nhìn ở khía cạnh. khác nhau sẽ có những quan niệm khác nhau về từ.
Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ ở Việt Nam cũng đưa ra các quan điểm của mình về từ: Trong công trinh “Dan luận ngôn ngữ học”, Nguyễn Thiện Giáp cho. rằng: “7ừ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ, độc lập về hình thức và ý nghĩa" [ 25, tr. Nguyễn Tài Cẩn trong “Ngữ pháp tiếng Việt” thì cho ring: “Tie là don vị nhỏ nhất có thể vận đụng độc lập trong câu” {9, tr 326]. Tác giả quan niệm tiếng độc lập là từ và các tổ hợp âm tiết chặt chẽ, cố định đều là từ ghép.
“Từ ghép lại được ông chia thành từ ghép nghĩa và lầy âm. Nguyễn Kim Thản trong“ Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt” định nghĩa: *Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, có thể tách khỏi các đơn vị khác của lời nói đề vận dụng một cách độc lập và là một khói hoàn chỉnh về ngữ âm, ý nghĩa (từ vựng hoặc ngữ pháp) và chức năng ngữ pháp ” [ S3, tr. Nhóm tác giả của công trình “Co sở ngôn ngữ học và tiếng Việt" Mai Ngoc Chit, Vii Đức Nghi Hoang trong Phién cho rit lừ là đơn vị nhỏ. nhất có nghĩa của ngôn ngữ, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để xây đựng nên câu ” [1T tr.136], B Đỗ Hữu Châu khi nghiên cứu về từ, trong “Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt", cho rằng: Từ có những đặc điểm như: “có hình thức ngữ âm và ngữ.
nghĩa; có tính có sẵn, cố định, bắt buộc; là những đơn vị thực tại hiển nhiên của ngôn ngữ (.) là đơn vị lớn nhất của hệ thống ngôn ngữ, nhưng lại là đơn vị nhỏ nhất trong câu, là đơn vị trực tiếp nhỏ nhất đề tạo câu” [10, tr6]. Từ đó, tác giả định nghĩa về từ: “7ừ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố. định, bắt biển, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, lớn nhất trong tiếng Uiệt và nhỏ nhất để cấu tạo câu " [10, tr. Với cách định nghĩa này, tác giả đã chỉ ra được đặc điểm khái quát cơ ban của từ là: tính độc lập (khả năng tách biệt của từ); tính hoàn chỉnh (từ có vỏ âm thanh hoàn chỉnh, có nội dung).
Vì thế chúng ta có thể phân biệt từ với các đơn vị khác: Phân biệt với yếu tổ cấu tạo nên từ (đơn vị nhỏ nhất có nghĩa nhưng không dùng trực tiếp để đặt câu); phân biệt với cụm từ và câu (các đơn vị có nghĩa nhưng không, nhỏ nhất). Chúng tôi dựa vào quan điểm của Đỗ Hữu Châu để làm cơ sở nghiên cứu cho. Các kiểu cấu tạo từ trong tiếng Việt Để làm điểm tựa cho việc phân tích ngữ liệu của đề tài, chúng tôi dựa trên quan điểm của Đỗ Hữu Châu trong cuốn Từ vựng ngữ nghĩa tiéng Viét (11), khảo sát và thống kê được ba kiểu u tạo từ: từ đơn, từ ghép, từ lấy như sa (1) Từ đơn là những từ được cấu tạo bởi phương thức từ hóa hình vị, Do đó, trong cấu tạo, từ đơn chỉ có một hình vị. Theo Đỗ Hữu Châu: *7ừ đơn là những từ một hình vị.
VỀ mặt ngữ nghĩa chúng không lập thành những hệ thắng có một kiểu ngữ nghĩa chung. Chúng ta lình hội và ghi nhớ nghĩa của từng từ một riêng rẽ. Kiểu cấu tạo không đóng vai trò gì đáng kể trong việc Tĩnh hội ý nghĩa của từ” [1 , tr. Từ đơn có hai loại đơn đơn âm tiết và đơn đa âm tiết.
Đại đa số từ đơn có một âm tiết (ví dụ: ông, bà, học, hát.), số 4 còn lại là từ đơn đa âm tiết (vi du: bd hong, ba zan, cd phé, ru bi, bù nhìn, xà phòng. (2) Từ ghép là những từ được tạo ra bởi phương thức ghép hai hoặc một số hình vị tách biệt, riêng rẽ và độc lập với nhau. Theo Đỗ Hữu Châu: từ gếp "được sản sinh do sự ét hợp hai hoặc một số hình vị (hay don vi cdu tao) tách biệt riêng rẽ, độc lập đối với nhau" [1I, tr. Phương thức ghép tác động vào hai hoặc hơn hai hình vị có nghĩa kết hợp chúng với nhau để sản sinh ra một từ mới mang đặc điểm ngữ pháp và ý nghĩa như một từ (từ ghép).
Dựa vào tính chất hình vị, tác giả chia từ ghép của tiếng Việt ra thành hai loại lớn: ghép hư và ghép thực. Từ ghép thực được tác giả phân chia theo kiểu ngữ nghĩa của từng loi: ghép phân nghĩa (ghép chính phụ) và ghép hợp nghĩa (ghép đẳng lập). Vi dụ ghép hợp nghĩa: lu khqp, muối đường, mdm mudi, tiêu tối, tỏi ớt, bánh trái, chua ngọt, sánh mịn. ghép phân nghĩa: bánh tế, bánh đâu xanh, bánh xèo, bảnh bò, bảnh da lợn, bánh bèo, bánh tai vô Từ ghép hư từ là những từ ghép do hai hình vị hư kết hợp với nhau theo phương thức ghép (ví dụ: đại sao, cho nên, bởi thế.
Ta có thể hình dung mô hình của phương thức ghép là Hình vị A,B > từ ghép AB Do trong quá trình nghiên cứu từ ngữ nghề bánh truyền thống ở Nam. Bộ, chúng tôi khảo sát, thống kê tư liệu với (728 từ) không có kiểu cá tạo tir ghép hư từ nên chúng tôi không nghiên cứu. Vậy nên, trong để tài của chúng tôi không sử dụng tên gọi từ ghép hư, từ ghép thực mà chỉ dùng tên gọi từ ghép để chỉ từ ghép thực. (3) Từ láy *Và những từ được cấu tạo theo phương thức lấy, đỏ là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết (với thanh điệu giữ 15 nguyên hay biển đổi theo quy tắc biến thanh tức là quy tắc thanh điệu biến đổi theo hai nhóm, gôm nhóm cao: thanh ngang, thanh sắc, thanh ngã và nhóm thấp: thanh huyền, thanh hỏi, thanh nặng) của một hình vị hay đơn vị có nghĩa” [1I, tr.
41] được tạo nên bởi phương thức láy. Lay là phương thức tác động vào một hình vị cơ sở làm xuất hiện một hình vị giống nó hoàn toàn. hoặc giống ột bộ phận về âm thanh. Cả hình vị cơ sở và hình vị láy kết hợp.
tao nên từ láy. Căn cứ vào số lần tác động của phương thức láy thì lay đôi, lay ba, lay bốn âm tiết. Ví dụ, láy đôi: beo béo, bập bùng, khắp khénh, ding đinh ; lay ba: sạch sảnh sanh, xốp xôm xộp, tẻo tèo teo, cỏn còn con.; lay bốn âm tỉ ¿ nhí nha nhí nhảnh, bi ba bi bom, diing đà diing dinh, nhdp nha nhấp nhô, gật gà gật gù. Dựa vào mức độ âm thanh giữ lại trong âm tiết của hình vị cơ sở, tác giả chia từ láy đôi thành láy toàn bộ và láy bộ phận (láy âm và lay van).
Vi dụ, láy toàn bộ: ngọt ngọi, thom thom, béo béo, déo déo, bil bùi, xanh xanh, vàng vàng, xinh xinh, tròn tròn. láy bộ phân (láy phụ âm đầu: long lanh, lắp ló, lắp lánh, nhắp nhô, lầy bộ phận vần: lanh chanh, lộp bộp, lập. cập, hắp tấp. Ta có thể hình dung mô hình phương thức láy như sau: Hình vịA > TừláyAA' Quan niệm về ngữ kiểu cấu tạo ngữ trong tiếng Việt 1.
Quan niệm về ngữ. Từ kết hợp với từ một cách có tổ chức và có nghĩa làm thành những tổ hợp từ hoặc kiến trúc lớn hơn từ (ngữ). Trong tiếng Việt, quan niệm về ngữ. cũng chưa thống nhất.
Ngay tên gọi cũng có nhiều cách gọi khác nhau: cụm. từ, đoản ngữ, ngữ đoạn, từ tố. Chúng tôi thống nhất với quan niệm của Nguyễn Tai Can khi cho rằng: “đoán ngữ là một tổ hợp từ tự do có ba đặc điểm như sau: 16 1) Né gém mét thanh 16 trung tam va mét hay mét sé thanh 16 phu quay quân xung quanh trung tâm đó đẻ bồ sung một số chỉ tiết thứ yếu vẻ mặt nghĩa. 2) Quan hệ giữa trung tâm và thành tố phụ có nhiều kiểu loại chỉ tiết rất khác nhau, nhưng nói chung đều thuộc vào loại quan hệ chính phụ.
3) Toàn đoán ngữ có tổ chức phức tạp hơn, có ý nghĩa đầy đủ hơn một mình trung tâm nhưng nó vẫn giữ được các đặc điểm ngữ pháp của trung tâm ” [9, tr. 149-150], Trong tiếng Việt, ngữ được chia thành nhiều loại với các tên gọi khác nhau. VỀ cơ bản ngữ chia ra thành hai loại: Ngữ cố định (thành ngữ, quán. ngữ) và ngữ tự do (cụm từ tự do).
Ngữ cố định là một đơn vị do một số từ tập. hợp l tồn tại với tư cách một đơn vị có sẵn như từ, có thành tố cấu tạo và ngữ nghĩa như từ. Chính vì vậy, ngữ cổ định được gọi là đơn vị tương đương với từ trong câu và mang chức năng định danh. Ví dụ: bóc bánh rrá tiền, má bánh đúc, bánh bèo dụng, bánh ti di bánh gì lại, bảnh sáp đi bánh chỉ lại, bánh đúc bẻ ba.
Õ đây, chúng tôi chủ yếu di vào tìm hiểu về ngữ tự do, ngữ. chuyên ngành chỉ nghề bánh truyền thống ở Nam Bộ. Các kiểu mô hình cấu tạo ngữ tiếng Việt 'Khi nghiên cứu, xem xét các kiểu cấu tạo ngữ trong tiếng Việt, người ta. thấy ngữ có ba kiểu quan hệ chính: chính phụ, đăng lập và chủ vị.
với các kiểu quan hệ là tên gọi của ba kiểu cụm từ (ngữ): cụm chính phụ, cụm. đẳng lập, cụm chủ vị. Trong ba loại cụm từ trên, chúng tôi di sâu vào nghiên cứu cụm chính phụ để phục vụ cho để tài của mình. Vì cụm từ đẳng lập tuy có hai hay nhiều.
thành tố từ tổ hợp từ trở lên nhưng tính chất của nó chỉ tương đương với một 17 từ. Chúng không đem đến sự phát triển mới về cấu tạo. Còn cụm từ chủ vị tuy. về cấu tạo giống câu đơn hai thành phần nhưng chỉ giữ vai trò là một thành phần trong câu.
Cụm chính phụ với kiểu quan hệ thành phần chính-phụ của mình đã góp phần cấu tạo thêm từ mới, tham gia vào việc mở rộng thành phần.