Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. Thơ và đặc trưng ngôn ngữ thơ 1. Về khái niệm Thơ Thơ là một trong những thể loại văn học nảy sinh từ rất sớm trong đời sống con người, thuộc phương thức biểu hiện trữ tình. Thơ gắn liền với sự rung động, với cảm xúc tươi mới, trực tiếp của cái tôi trữ tình trước mọi biểu hiện đa dạng, phức tạp của cuộc sống.
Có thể nói, bản chất của thơ ca rất đa dạng, phong phú. Thơ tác động đến người đọc bằng nhận thức cuộc sống, bằng khả năng gợi cảm sâu sắc tác động trực tiếp tới cảm xúc, suy nghĩ của người đọc. Bên cạnh đó, nhờ ngôn ngữ thơ giàu nhạc điệu đã tác động gián tiếp tới sự liên tưởng của người đọc. Chính vì thế mà đã có nhiều quan niệm, nhiều cách lý giải khác nhau và thậm chí đối lập về bản chất của thơ ca.
Khuynh hướng thứ nhất, thần thánh hoá thơ ca, cho thơ là một cái gì đó thuộc về tinh thần tối cao, huyền bí, do thượng đế sáng tác tạo ra và nhập vào con người. Ở khuynh hướng này, xem bản chất thể hiện trong tình cảm - những cảm xúc thiêng liêng nhất giữa thế giới linh thiêng cao xa và thế giới con người, nhà thơ là người có năng lực cảm nhận đặc biệt và có thể biểu đạt chúng. Khuynh hướng thứ hai là khuynh hướng hình thức chủ nghĩa, xem bản chất thơ thuộc về những nhân tố hình thức. So với các loại hình văn học nghệ thuật khác, thơ tự bộc lộ mình bằng chính ngôn ngữ của đời sống một cách trực tiếp, không có sự hỗ trợ nào của các sự kiện, cốt truyện, tình huống.
Từ tiếng nói quen thuộc của đời sống, ngôn ngữ thơ ca đã tạo thêm cho mình những năng lực mới rất kì diệu và họ đi đến khẳng định: thơ là sáng tạo ngôn ngữ, hoặc tổ chức kết cấu hơn là những nhân tố nội dung. 10 Khuynh hướng thứ ba gắn sứ mệnh và bản chất thơ với xã hội, hoạt động thơ ca là hoạt động tư tưởng. Thơ là tiếng nói tình cảm nhưng tình cảm phải gắn trực tiếp với một chủ đề tư tưởng nào đó. Theo khuynh hướng này, tư tưởng chủ đề là tư duy của nhà văn, nhà thơ về các tính cách xã hội đã được miêu tả trong tác phẩm.
Tư duy này thể hiện ở chỗ nhà văn, nhà thơ chia cắt và làm mạnh thêm những mặt bản chất của tính cách xã hội, mặt khác, quan hệ của các tính cách được miêu tả xuất phát từ thế giới quan đã từng thực sự tồn tại. Không có cuộc sống, không có thơ. Những quan niệm trên tuy có khác nhau nhưng chung ở điểm là đều chú ý làm rõ bản chất của thơ ca và vai trò của con người sáng tác trong sáng tạo nghệ thuật. Tuy nhiên về cơ bản, những quan niệm trên vẫn chưa nêu lên được đặc trưng riêng biệt của thơ ca.
Những đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ thơ Thơ là hình thái của sáng tạo văn học nghệ thuật. Cho nên ngôn ngữ thơ trước hết phải là ngôn ngữ văn học mang những đặc trưng chung: “Tính chính xác, tính hàm súc, tính đa nghĩa, tính tạo hình và biểu cảm” [3, tr. Thơ là một thể loại của văn học, ngôn ngữ thơ được tổ chức trên cơ sở nhịp điệu, hết sức cô đọng hàm súc và đặc biệt gợi cảm. Ngôn ngữ thơ còn mang đặc trưng riêng biệt về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp so với các thể loại văn học nghệ thuật khác.
Về ngữ âm Đặc điểm nổi bật về ngữ âm để phân biệt thơ với văn xuôi là đặc trưng tính nhạc. Trong thơ, việc tổ chức các phương tiện ngữ âm được chú ý. Thế giới nội tâm của nhà thơ không chỉ biểu hiện bằng ý nghĩa của từ ngữ mà còn cả âm thanh, nhịp điệu, các thành tố tham gia tạo nên nhạc thơ gọi là “tham số thanh học của ngôn ngữ”. Nếu như văn xuôi thường kiêng kỵ lặp đi lặp lại các phương tiện ngữ âm thì ở thơ sự lặp đi lặp lại trở thành một thủ pháp nghệ 11 thuật.
Ở đây tính tương đồng của ngôn ngữ được dùng để xây dựng thông báo. Các biện pháp tu từ: đối, điệp, láy, lặp. tạo nên nhạc tính là nét khu biệt của ngôn ngữ thơ ca với văn xuôi. Nhạc tính đem lại tiết tấu, sự cuốn hút, sự duyên dáng sang trọng, khoái cảm thẩm mỹ cho thơ: “Câu thơ và vần có một cái duyên mà thậm chí khi lời, ý dở, nhà thơ vẫn có thể quyến rũ người nghe bằng nhịp điệu và sự cân đối” [3, tr.
Vần và nhịp cũng góp phần tạo nên tính nhạc cho ngôn ngữ thi ca. Vần sẽ tạo nên nhịp điệu cho thơ, liên kết các dòng thơ và tạo nên hiện tượng hoà âm trong thơ. Chính tính nhạc của ngôn ngữ đã đưa thơ ca xích lại gần với âm nhạc. Vần điệu, tiết tấu được tạo thành bởi các nguyên âm, phụ âm, thanh điệu: bằng - trắc, bổng - trầm, ồn - vang điều này sẽ không những làm cho câu thơ vang lên tiếng nhạc kỳ diệu mà còn lan toả giữa các câu thơ, dòng thơ và lên toàn bộ bài thơ.
Về ngữ nghĩa Khác với văn xuôi và ngôn ngữ giao tiếp thông thường, ở địa hạt thơ, mỗi từ, ngữ khi đưa vào sử dụng đều hoạt động rất linh hoạt, chữ và nghĩa trong thơ mang những giá trị khác ngoài giá trị biểu niệm. Trong thơ, tuỳ theo từng thể loại mà việc lựa chọn từ ngữ bao giờ cũng được đặt lên hàng đầu. Thực tế nghiên cứu cho thấy nhiều từ, ngữ khi đưa vào thơ ngoài nghĩa đen, nghĩa gốc, nghĩa ban đầu của nó, qua bàn tay tài năng của nhà thơ bỗng mở ra những ý nghĩa mới tinh tế hơn, đa chiều hơn, cuốn hút hơn nhiều. Đó chính là nghĩa bóng, nghĩa ẩn dụ hay là nghĩa biểu trưng của ngôn ngữ thơ ca.
Quá trình chuyển nghĩa này trong thơ diễn ra như một đặc trưng khu biệt nó với các loại hình nghệ thuật khác, làm cho thơ ca có một sức cuốn hút kỳ lạ đối với người đọc, người nghe của mọi thời đại. Tiếp nhận văn học, đặc 12 biệt là tiếp nhận thơ không phải là sự tiếp nhận bằng mắt, bằng tai mà quá trình ấy diễn ra như một tác động kép. Bởi người đọc, người nghe không chỉ để nghe - đọc mà còn tiếp nhận bằng cảm xúc, bằng trí tưởng tượng, bằng tâm thế của một người tiếp nhận sáng tạo trên một văn bản thơ cụ thể. Điều này chứng tỏ ngôn ngữ thơ không chỉ là phương tiện để giao tiếp, để giãi bày đơn thuần mà còn cho phép người sáng tạo và tiếp nhận gặp nhau ở một tầng nghĩa cao hơn, khi đó ngôn ngữ thơ: “là ngôn ngữ đồng thời là sự phủ nhận ngôn ngữ.
Đó là cái vượt ra ngoài giới hạn” [9, tr. Thơ ca là “ý tại ngôn ngoại” là dồn nén chữ nghĩa, là cái biểu đạt và cái được biểu đạt đã xâm nhập chuyển hoá vào nhau, cùng nhau đẩy thơ lên một tầng nghĩa cao hơn. Khoảng không ngữ nghĩa của ngôn ngữ thơ ca là vô tận. Vì vậy, muốn khảo sát thơ, chúng ta phải có một trí tưởng tượng phong phú, kinh nghiệm dồi dào.
Chính vì điều này mà ngôn ngữ thơ ca luôn luôn là địa hạt tươi mới, lung linh, hấp dẫn cho hành trình của loài người đi tìm những thế giới nghệ thuật thơ. Về ngữ pháp Nếu cho rằng thơ: “Là một cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản” [33, tr. 73] thì sự “quái đản” đó được thể hiện rất rõ ở bình diện ngữ pháp của thơ. Trước tiên, đó là sự phân chia các dòng thơ.
Trong thơ, ranh giới giữa câu thơ và dòng thơ không hoàn toàn trùng nhau. Có những câu thơ bao gồm nhiều dòng, có dòng bao gồm nhiều câu, các thành phần trong dòng, trong câu hay bị đảo lộn trật tự, các từ nhiều lúc không sắp xếp theo trật tự như bình thường và điều này hoàn toàn không xảy ra với câu văn xuôi. Đặc điểm này thể hiện rất rõ qua hiện tượng vắt dòng trong thơ ca Việt Nam hiện đại. Trong thơ, các dòng, các vế câu, các ý nghĩa khi trông qua hình như không có mối liên hệ logic gì với nhau, nhiều khi trái nghĩa nhau về lôgic 13 lập luận, thậm chí có khi thật “phi lý” nhưng người đọc vẫn hiểu được mạch ngầm các ý trong câu, hiểu được ý ẩn náu ngữ nghĩa đằng sau tầng cấu trúc ngữ pháp tưởng như không lý giải được để tạo nên một sự hợp lý nhất định có thể chấp nhận được và “vườn cấm” này chỉ dành riêng nhất cho thơ.
Những kết hợp không bình thường trong kiến trúc dòng thơ diễn ra rất đa dạng và phức tạp. Có khi một dòng thơ chứa nhiều câu thơ, có khi một dòng lại chỉ là một vế câu. Do vậy, nhà thơ có thể sử dụng đa dạng những kiểu câu “bất thường”. Câu chỉ một âm tiết đến nhiều âm tiết, câu tách biệt, câu vắt dòng, câu trùng điệp, đảo cú… không những không làm ảnh hưởng đến quá trình tiếp nhận ngữ nghĩa của văn bản mà còn mở ra những chân trời ngữ nghĩa mới.
Từ những đặc điểm ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp như vậy ta thấy ngôn ngữ thơ là một thứ ngôn ngữ nghệ thuật rất đặc thù. Bởi nó không chỉ là sản phẩm thể hiện tài năng của người sáng tác mà còn là đối tượng được lựa chọn không kém phần gắt gao để tiếp tục sáng tạo của người thưởng thức. Ngôn ngữ thơ có khả năng diễn đạt những tình ý sâu xa không chỉ qua việc lựa chọn từ ngữ mà còn cả cách kết hợp, tạo nên những khả năng vô cùng trong việc sáng tạo cũng như khám phá những trạng thái tình cảm, tinh thần vô cùng phong phú, bí ẩn của con người. Ngữ cảnh và vai trò của ngữ dụng 1.
Ngữ cảnh Hiểu một cách chung nhất, ngữ cảnh là toàn bộ các nhân tố tham gia vào hoạt động giao tiếp. Xét trong những hoàn cảnh giao tiếp cụ thể có thể hiểu: Ngữ cảnh chính là bối cảnh ngôn ngữ làm cơ sở cho việc sử dụng từ ngữ và tạo lập lời nói, đồng thời làm căn cứ để lĩnh hội thấu đáo lời nói. Như vậy có thể hiểu mỗi một phát ngôn đều được sản sinh ra trong một bối 14 cảnh nhất định, muốn lĩnh hội được đầy đủ, chính xác câu đó ta phải đặt nó trong bối cảnh mà nó ra đời. Bối cảnh đó được gọi là ngữ cảnh.
Các nhân tố của ngữ cảnh thường được nói tới đó là: - Nhân vật giao tiếp bao gồm người nói (viết) và người nghe (đọc).