CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Vi khuẩn Helicobacter pylori 1. Lịch sử nghiên cứu H.
pylori Loài xoắn khuẩn này đã được tìm thấy trong niêm mạc dạ dày của người và động vật từ năm 1875 nhưng mối liên quan giữa vi khuẩn này và các bệnh lý ở dạ dày tá tràng chưa được xác định [32]. pylori (Nguồn:http://microbewiki.edU/images/thumb/2/24/H.gif) Khi mới được phân lập vi khuẩn này được đặt tên là Campylobacter pyloridis căn cứ vào vị trí khu trú và một số đặc điểm giống Campylobacter jejuni [35]. Sự khác biệt giữa Campylobacter pyloridis và các chủng Campylobacter được xác định bởi Goodwin và cộng sự vào năm 1989 từ đó Campylobacter pyloridis được đổi tên thành Helicobacter. Tên Helicobacter phản ánh hai đặc điểm hình thái của vi khuẩn dạng hình gậy trên in vitro và hình xoắn trên in vivo [21].
Năm 1983, Warren và Marshall cùng các cộng sự tuyên bố có sự liên quan với vi khuẩn này với bệnh lý dạ dày. Tuy nhiên, quan niệm lúc đó khó chấp nhận sự có mặt cũng như vai trò của vi khuẩn tồn tại trong môi trường rất axid của dạ dày. Thí nghiệm của Marshall bằng cách uống Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c 4 một lượng lớn vi khuẩn sống H. pylori vào trong cơ thể, sau đó theo dõi các triệu chứng của viêm dạ dày cấp tính và thực hiện xác định sự có mặt của H.
pylori bằng phương pháp mô bệnh học từ bệnh phẩm sinh thiết dạ dày. Song song với nghiên cứu này còn có nghiên cứu của Morris cũng tự gây nhiễm trùng H. pylori cho bản thân. Cuối cùng, với những nỗ lực trong các nghiên cứu nêu trên, vi khuẩn H.
pylori đã được công nhận là tác nhân gây viêm loét dạ dày ở người [13]. Viện nghiên cứu sức khỏe Hoa Kỳ đã công bố vi khuẩn H. pylori có khả năng gây viêm loét dạ dày - tá tràng và khuyến cáo dùng kháng sinh để điều trị nhiễm trùng này và Warren và Marshal đã giành được giải thưởng Nobel Sinh lý học và Y học vào năm 2005 [16]. Đặc điểm hình thái học của H.
pylori Về hình thể, H. pylori có hình dạng mỏng mảnh, cong xoắn hoặc hình chữ S, bắt mầu gram âm, dài từ 1,5 đến 5 pm và dày 0,3 -1 pm, với 4 đến 7 lông có vỏ bọc ra từ một đầu cực. Nhờ cấu trúc hình xoắn và các lông này, vi khuẩn di chuyển dễ dàng trong lớp nhầy của dạ dày. Các lông roi đều có vỏ là lớp liên tục với màng ngoài vi khuẩn, chính lớp vỏ này bảo vệ cho các sợi và chất sợi trong lông không bị môi trường acid khử cực và làm mất chất sợi, đảm bảo cho hoạt động di chuyển của vi khuẩn [49].
Hình thái điển hình của H. pylori chỉ gặp khi soi tươi hoặc nhuộm mô bệnh học các mẫu sinh thiết. Trong môi trường nuôi cấy, H. pylori dài hơn và có độ xoắn thấp hơn.
Ngoài ra, trong môi trường nuôi cấy để lâu hoặc trong môi trường ngoài, H. pylori thường chuyển thành dạng hình cầu với nhiều kích thước khác nhau. Dựa vào đặc điểm hình thái học, vi khuẩn H. pylori có thể được phát hiện theo phương pháp tế bào học bằng cách nhuộm gram hoặc soi kính hiển vi đối quang phân kỳ (phase contrast microsopy) từ các mẫu bệnh phẩm sinh thiết dạ dày và theo phương pháp mô bệnh học [29].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc. Cơ chế gây bệnh của H. pylori Sau khi xâm nhập vào dạ dày, nhờ có hình xoắn và các lông roi ở một đầu, vi khuẩn có thể xâm nhập vào lớp nhày bao phủ niêm mạc dạ dày. Nhờ có các yếu tố bám dính, vi khuẩn bám dính vào tế bào biểu mô niêm mạc dạ dày, nhờ có khả năng tiết ra nhiều enzym urease có tác dụng phân hủy ure trong dạ dày thành amonia gây kiềm hóa môi trường xung quanh vi khuẩn.
Môi trường này có tác dụng giúp cho vi khuẩn tồn tại được trong lớp nhày của dạ dày đồng thời tránh được sự tấn công của axid HCl, pepsin luôn có trong lòng dạ dày [29]. Amonia cùng với nhiều yếu tố có khả năng gây bệnh của H. pylori như các độc tố tế bào, các enzym tiêu protein, phospholipase. đã phân hủy các thành phần của chất nhày bao phủ niêm mạc dạ dày giúp cho axid HCl và pepsin tấn công vào niêm mạc tổn thương viêm.
Mặt khác, các yếu tố có khả năng gây bệnh của H. pylori như urease, chất bám dính, LPS, CagA, VacA, protease, lipase. gây tổn thương niêm mạc dạ dày, đồng thời giải phóng ra hàng loạt các chất trung gian hóa học có khả năng phát động quá trình viêm như: các Interleukin (IL1-6-8.), yếu tố gây hoại tử khối u (TNF-α), các leucotriene. Các yếu tố IL 1,6,8 có tác dụng tăng cường quá trình bám dính của bạch cầu vào thành mạch, tăng cường hoạt động xuyên mạch của bạch cầu và có tác dụng thu hút bạch cầu tới vùng viêm.
Ngoài ra, IL1,8 còn có tác dụng thu hút các tế bào lympho T, tăng cường chuyển dạng các tế bào T thành tế bào T giúp đỡ có khả năng sinh ra các Interleukin, trong đó có IL 1,6,8. Các Interleukin, các yếu tố gây bệnh của H. pylori còn có tác dụng hoạt hóa hệ thống bổ thể. Hệ thống này cùng với Leukotriene có tác dụng góp phần thu hút bạch cầu đặc biệt là các lympho B có chức năng sản xuất globulin miễn dịch đặc hiệu IgG, IgA.
Quá trình đáp ứng miễn dịch dịch thể sinh ra các kháng thể chống H. pylori cũng gây ra phản ứng chéo với các thành phần kháng nguyên tương tự trên các tế bào biểu mô dạ dày [2]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c 6 Viêm dạ dày do nhiễm H. pylori diễn biến qua 2 giai đoạn: Giai đoạn cấp tính: Quá trình nhiễm H.
pylori có thể [24] chia làm hai giai đoạn. Giai đoạn cấp tính, vi khuẩn xâm nhập, nhân lên và gây hiện tượng viêm niêm mạc, giảm tiết acid và một số triệu chứng dạ dày tá tràng xuất hiện. Sau vài tuần, giai đoạn viêm mãn tính bắt đầu với hiện tượng giảm các đáp ứng viêm, pH dạ dày trở về bình thường và người nhiễm trở nên không có triệu chứng. Sự xâm nhập của vi khuẩn H.
pylori ở niêm mạc dạ dày dẫn đến sự xâm nhập các bạch cầu trung tính và mono ở cả hang vị và thân vị, dẫn đến quá trình viêm mãn tính và loét. Giai đoạn mãn tính: trong giai đoạn viêm cấp, nếu điều trị H. pylori sẽ được tiệt trừ, tình trạng viêm có thể chấm dứt nhanh chóng. Nhưng phần lớn các trường hợp chuyển sang viêm mãn tính do H.
pylori tồn tại lâu dài ở niêm mạc dạ dày. Giai đoạn này các triệu chứng lâm sàng có thể giảm đi hoặc mất nhưng về mô bệnh học quá trình viêm mãn tính biểu hiện rõ với những biến đổi mô, có hiện tượng bong tróc niêm mạc và xâm nhập nhiều tế bào viêm. pylori dẫn đến quá trình viêm niêm mạc dạ dày, quá trình này nếu không được điều trị sẽ diễn biến ngày càng nặng. Trên cơ sở niêm mạc viêm, hàng rào bảo vệ niêm mạc bị phá hủy, kết hợp với sự tấn công của acid HCl và pepsin dẫn đến trợt rồi loét.
Các tổn thương do nhiễm H. pylori làm cho chức năng của tế bào D bị giảm, dẫn tới giảm tiết somatostatin là chất ức chế bài tiết gastrin và kiểm soát HCl. Giảm somatostatin sẽ làm tăng tiết gastrin dẫn tới tăng tiết HCl quá mức ở dạ dày làm cho pH ở hành tá tràng giảm mạnh gây nên tình trạng dị sản niêm mạc dạ dày ở hành tá tràng, đây là yếu tố tấn công quan trọng gây viêm, loét [46]. Gen mã hoá CagA (Cytotoxine associated gene A) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c 7 CagA là một protein có trọng lượng phân tử 120-140 KDa mã hoá bởi gen CagA phân bố trong vùng DNA có tên là “đảo sinh bệnh” (PAI, pathogenicity island) trong hệ gen của H.
CagA được coi là một oncoprotein, được chuyển vào các tế bào biểu mô dạ dày bằng hệ thống bài tiết IV của mầm bệnh, tạo ra nhiều tầng tín hiệu [44], [40]. Các đánh giá khác trong loạt bài này mô tả chi tiết các phản ứng báo hiệu nội bào biểu mô do CagA gây ra và vai trò của nó trong sinh bệnh học [7], [53]. Các nghiên cứu gần đây đã báo cáo rằng ngoài việc kích hoạt NOD-1, heptose-1,7-bisphosphate (HBP) của vi khuẩn, tiền chất chuyển hóa của sinh tổng hợp lipopolysacarit, cũng được đưa qua hệ thống tiết Cag loại IV vào tế bào biểu mô [19], [51]. Độc lập với NOD1, HBP kích hoạt yếu tố liên quan đến thụ thể của yếu tố hoại tử khối u tế bào (TRAF) với protein liên kết với đầu nối (TIFA), dẫn đến việc kích hoạt sớm các phản ứng chemokine của NFkB và CXC.
Như vậy, sự hoạt hóa của biểu mô NOD-1 và TIFA bởi hai thành phần độc lập của H. pylori được cung cấp qua các Cag loại IV trigger hệ thống bài tiết bẩm sinh phản ứng viêm miễn dịch. Tỷ lệ mắc ung thư dạ dày và sự thay đổi trong tần số của Cag PAI [45] là những yếu tố quan trọng khi đánh giá nguy cơ nhiễm trùng với các chủng H. pylori dương tính CagA và ung thư dạ dày.
Các nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng CagA EPIYA-D ở các chủng Đông Á liên kết với SHP2 phosphatase pro- oncogen mạnh gấp 100 lần so với CagA EPIYA- C ở các chủng H. pylori của phương Tây và cũng kích thích hoạt động mạnh mẽ Ras ERK của tế bào [25], [37]. CagA IgG đã được đánh giá bằng phương pháp ELISA sử dụng CagA tái tổ hợp trong một số bệnh ung thư dạ dày để xác định xem CagA IgG huyết thanh dương tính có liên quan đến tỷ lệ CagA huyết thanh âm tính, tỷ lệ H. pylori dương tính và các đối chứng không bị nhiễm trùng phù hợp với các lứa tuổi [47].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c 8 CagA là một yếu tố quan trọng trong sự phát triển của ung thư dạ dày ở những người nhiễm H. Trong mô hình của gerbil, chủng CagA-dương tính nhưng không phải là yếu tố gây đột biến CagA dẫn đến phát triển ung thư dạ dày, hầu hết các bệnh nhân có chủng CagA- dương tính đều có xu hướng phát triển thành ung thư dạ dày ở phương Tây [41]. Tuy nhiên, ở các nước Đông Á hầu hết các chủng H. pylori đều biểu hiện có đột biến CagA.