ĐẶT VẤN ĐỀ Cây Trám đen (Canarrium nigrum Swingle) phân bố khá rộng ở các tỉnh phía Bắc và phía Nam của nƣớc ta. Cây Trám đen có từ lâu đời tại xã Hoàng Vân, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. Quả Trám đen đƣợc trồng tại xã Hoàng Vân là nguồn thực phẩm sạch, bổ dƣỡng, là món ăn ngon có tiếng ở Việt Nam từ xƣa. Hạt trám đƣợc ngƣời Anh, ngƣời Pháp sử dụng để chiết xuất dầu dùng trong công nghiệp, dầu thực phẩm, m phẩm, họ ví dầu Trám giống nhƣ dầu cây ôliu (Hoàng Thanh Lộc, 2012) [5].
Hiện nay, tại xã Hoàng Vân diện tích trồng Trám khoảng 40 ha, với 1.253 cây Trám đen cho thu hoạch quả. Trong đó, có 118 cây Trám cổ thụ trên 100 năm tuổi và 216 cây từ 70 -100 năm tuổi. Cây sai quả đạt tới 160 kg/năm, cây ít quả 20-25kg/năm. Hàng năm, xã Hoàng Vân cung cấp ra thị trƣờng từ 50-60 tấn quả trám tƣơi.
Giá quả Trám đen năm 2016 là 80.000 đồng/kg, tƣơng đƣơng với mỗi vụ quả ngƣời dân địa phƣơng thu đƣợc 4 – 4,5 tỷ đồng (Hoàng Thanh Lộc, 2016). Kết quả điều tra, khảo sát của Viện Cải thiện giống và Phát triển lâm sản tháng 10 năm 2016 cho thấy, cây Trám đen hầu hết đƣợc ngƣời dân trồng tự phát. Cây giống đem trồng chủ yếu là cây hạt, có một số trồng cây ghép, nhƣng cây ghép không có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng. Dẫn đến năng suất quả, đặc biệt chất lƣợng quả rất khác nhau.
Trên địa bàn, có một số cây Trám đen ở giai đoạn 40-60 năm tuổi, năng suất quả cao, chất lƣợng quả ngon đƣợc bán với giá cao, đem lại giá trị kinh tế hơn hẳn những cây khác. Hơn nữa, số lƣợng cây Trám đen cổ thụ, có năng suất và chất lƣợng quả ngon đang dần bị sâu bệnh, cây già cỗi. Đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu tuyển chọn đánh giá cây trội Trám đen (Canarrium nigrum Swingle) tại xã Hoàng Vân, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang” đƣợc thực hiện nhằm chọn lọc đƣợc cây trội có năng suất quả cao, chất lƣợng cảm quan của quả tốt làm nguồn vật liệu cho công tác bảo tồn và phát triển nguồn gen cây Trám đen tại xã Hoàng Vân, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. Đồng thời tạo cơ sở khoa học ban đầu cho công tác cải thiện giống cây Trám đen tại xã Hoàng Vân theo hƣớng nâng cao hàm lƣợng các chất dinh dƣỡng trong thịt quả ở các giai đoạn sau.
download by : skknchat@gmail.com 2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu cây Trám đen trên thế giới 1. Phân loại và phân bố Canarium là chi thực vật gồm 75 loài thuộc họ Burseraceae. Họ Burseraceae có phân bố tự nhiên ở các nƣớc nhiệt đới và á nhiệt đới từ Châu Phi, Nam Á, Đông Nam Á đến Australia.
Các loài trong chi Canarium phân bố từ phía nam Nigeria đến phía đông Madagasca, Maritus, Ấn Độ, nam Trung Quốc, các nƣớc Đông Dƣơng, Indonesia và Philippine. Chi này gồm các loài thực vật thân gỗ, có thể cao tới 30- 40m, lá kép lông chim mọc cách (Nguyễn Tiến Bân, 2003) [12]. Đặc điểm sinh học và kỹ thuật trồng Các tác giả Trung Quốc ở Hội thực vật chí (1976) giới thiệu Trám đen cho trồng rừng. Theo các tác giả Trám đen cao 15- 25 m, đƣờng kính 20- 120 cm, có phân bố chủ yếu ở các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, một phần ở tỉnh Phúc Kiến và Đài Loan.
Các nhà khoa học Trung Quốc cũng đã có những nghiên cứu về phân bố, hình thái, đặc tính sinh học, giá trị sử dụng, k thuật trồng rừng và phòng trừ sâu bệnh. Nghiên cứu về phân tử các loài Trám Nghiên cứu di truyền quần thể các loài Trám phục vụ cho công tác bảo tồn, phát triển và khai thác cũng đã đƣợc nhiều nhà nghiên cứu ở Trung Quốc, Malaysia và Nhật Bản quan tâm (Zhang et al. Zhang và cộng sự (2009) sử dụng chỉ thị SSR để phân tích cấu trúc di truyền cho loài Canarium album và loài Canarium pimela. Kết quả phân tích đã chỉ ra mức độ đa dạng di truyền bị suy giảm cao liên quan đến khả năng tăng hệ số đồng hợp tử trong các quần thể nhỏ và hẹp đồng thời cũng nói lên sự di nhập gen đáng kể giữa các vùng sinh thái.
Từ các kết quả nhận đƣợc đã giúp các nhà tạo giống đƣa ra một số biện pháp hiệu quả để download by : skknchat@gmail.com 3 phục hồi nguồn gen cho hai loài trám này (Zhang et al. Cũng theo hƣớng này, Shamsudin (2008) [29] đã sử dụng chỉ thị RAPD có sự hỗ trợ của enzyme giới hạn để nghiên cứu cấu trúc di truyền quần thể loài Canarium odontophyllum thu đƣợc từ 2 vùng Sarikei và Sibu thuộc Malaysia. Kết quả phân nhóm cho thấy có sự giao thoa di truyền giữa hai quần thể (Shamsudin, 2008) [29]. So với các loài cây thực phẩm khác, thì nghiên cứu giải mã một số vùng gen bảo thủ cho mục đích phân loại, nhận dạng một số quần thể Trám đen cũng đã đƣợc quan tâm ở Trung Quốc và Sri-Lanka (chƣa có trình tự nucleotide nào công bố cho loài Trám đen của Việt Nam).
Theo công bố của ngân hàng Genbank (2016) hiện đang lƣu giữ 532 trình tự nucleotide cho các loài thuộc chi Canarium tập trung vào vùng gen chính là gen nhân (ITS) (9 trình tự), gen lục lạp (cpDNA) và gen chức năng (NIA). Trong đó vùng gen lục lạp tập trung chủ yếu là vùng rbcL (93 trình tự), matK (25 trình tự), trnL- trnF (32 trình tự), psbA-trnH (15 trình tự), rpoC1 (1 trình tự),… 1. Thu hái, sơ chế và bảo quản a. Kỹ thuật thu hái Trên thế giới hiện nay thu hái quả trám chủ yếu theo phƣơng pháp thủ công, các nƣớc hiện đại có sử dụng máy.
Có một số loại máy điều khiển bộ phận thu quả lên tới các độ cao khác nhau của tán cây để cắt các cành có quả. Quả khi rơi xuống đất và có thể đƣợc thu thập bằng tay hoặc bằng máy (Roberto E. Chế biến và sản phẩm của quả trám Trám đƣợc trồng nhiều nơi trên thế giới, nhƣng đƣợc trồng tập trung nhiều nhất ở Trung Quốc, Philipine. Từ năm 1980- 1996, tại một số huyện của tỉnh Phúc Kiến sản lƣợng quả trám tăng từ 4,5 -12,5 lần.
Tới khoảng năm 1998, riêng tại Phúc Kiến đã có tới 150 xƣởng chế biến lớn nhỏ với hơn hai mƣơi loại sản phẩm khác nhau. Một trong những sản phẩm quan trọng từ quả trám là nhân hạt. Hƣơng vị download by : skknchat@gmail.com 4 của nhân trám khi rang thơm, hấp dẫn và giòn gần giống hạnh nhân. Nhân trám cũng đƣợc sử dụng trong quá trình chế biến socola, kem và bánh nƣớng.
Về mặt dinh dƣỡng, nhân hạt chứa 71,1% chất béo, 11,4% protein và 8,4% carbohydrate, giàu canxi, phốt pho và kali. Lipid trong nhân quả trám có thể so sánh chất lƣợng với dầu ô liu, chứa tới 59% glycerides oleic và 32-59% glycerides palmitic (Orwa et al. Nhân quả trám là một thành phần chính trong một món ăn Trung Quốc là bánh trung thu”. Tuy nhiên, nhân hạt của một số giống trám có thể bị đắng, xơ hoặc có mùi nhựa thông.
Từ sau năm 1980, chế biến trám cũng nhƣ thị trƣờng tiêu thụ trám đƣợc mở rộng rất nhanh nhƣng vẫn không đủ phục vụ nhu cầu của thị thƣờng Trung Quốc và phục vụ xuất khẩu, giá cả tăng dần, đặc biệt là các sản phẩm mứt trám. Vài năm gần đây các loại mứt trám truyền thống đã cải thiện đƣợc các chỉ tiêu cảm quan nhƣ hƣơng vị, màu sắc. Sản phẩm có tên gọi là Trám dẹt” đang đƣợc sản xuất nhiều với các loại mẫu mã khác nhau và đang đƣợc thị trƣờng rất ƣa chuộng. Ngoài mứt trám là mặt hàng truyền thống, các nghiên cứu và sản xuất thử đã và đang bắt đầu đƣa ra thị trƣờng các sản phẩm khác nhƣ các loại kem trám, tƣơng trám, rƣợu trám, nƣớc giải khát phức hợp có Trám.
Các nghiên cứu về cây Trám đen ở Việt Nam 1. Phân loại và phân bố Cây Trám đen có tên khoa học là Canarrium nigrum Swingle thuộc chi Canarium, họ Burseraceae, bộ Sapindale; chi Trám ở nƣớc ta gồm có 8 loài, trong đó 2 loài đƣợc trồng ăn quả là Trám trắng và Trám đen, loài có thể ăn quả song ít giá trị hơn là Trám 3 cạnh hay Trám hồng (C. bengalensis) (Nguyễn Tiến Bân và cs. Trám đen có phân bố khá rộng ở các tỉnh phía Bắc và phía Nam Việt Nam.
Các tỉnh phía Bắc có nhiều Trám đen mọc nhất là: Bắc Giang, Phú Thọ, download by : skknchat@gmail.com 5 Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình. Các tỉnh phía Nam có Trám đen mọc là Quảng Nam, Đăk Lăk và Khánh Hòa (Dự án Hỗ trợ Chuyên nghành Lâm sản ngoài gỗ tại Việt Nam- Pha II. Trám đen phân bố ở độ cao 500m trở xuống. Cây Trám đen Hoàng Vân Cây Trám đen đƣợc trồng từ lâu đời tại xã Hoàng Vân, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
Xã nằm dọc theo tả ngạn sông Cầu, đất đai chủ yếu thuộc loại đất phù sa cổ, không đƣợc bồi đắp hàng năm. Đất có tầng canh tác dày, có thành phần cơ giới từ cát pha đến thịt nặng. Hiện nay, toàn xã Hoàng Vân có khoảng 1.200 cây Trám đen cho thu hoạch quả, tƣơng đƣơng với diện tích 40 ha, trong đó có khoảng hơn 100 cây Trám cổ thụ trên 100 năm tuổi và hơn 200 cây từ 70 -100 năm tuổi. Cây sai quả đạt tới 160 kg/năm, cây ít quả 20-20kg/năm.
Quả Trám đen tại Hoàng Vân ăn ngon có tiếng ở Việt Nam từ bao đời nay. Đƣợc dùng nhƣ một nguồn thực phẩm bổ dƣỡng. Hàng năm, Hoàng Vân cung cấp ra thị trƣờng khoảng 50- 60 tấn quả trám tƣơi (http://thong tinkhcn.vn/tin-tuc/detail). Giá quả Trám đen năm 2015 là 80.000đ/kg; với giá đó, ngƣời dân tại địa phƣơng thu đƣợc 4 tỷ đồng/vụ/năm.
Do đó, cây Trám đen là loài cây có tiềm năng trở thành một loài cây trồng giúp ngƣời dân giảm nghèo. Đặc điểm hình thái Trám đen là cây gỗ lớn, cao 25 -30m, đƣờng kính tới 90 cm; thân thẳng, phân cành cao. Vỏ màu nâu nhạt khi đẽo ra có nhựa mủ màu đen; toàn thân có mùi thơm hắc; gỗ nhẹ, mềm, màu xám trắng. Lá kép lông chim 1 lần lẻ, không có lá kèm.
Lá chét hình thuôn dài, dài 6- 12 cm, rộng 3- 6 cm, phiến lá cứng, giòn, mặt trên bóng, mặt dƣới hơi sẫm, đầu và đuôi lá lệch, gân bên 8-10 đôi. Cuống là chét dài 0,5 cm. Hình dáng lá của cây con thay đổi nhiều, từ lá xẻ thùy đến lá đơn, cuối cùng mới sinh lá kép nhƣ cây trƣởng thành. Hoa tự chùm hình viên chùy, thƣờng dài hơn lá, hoàn toàn nhẵn.
Hoa màu trắng nhạt, download by : skknchat@gmail.