Luận văn thạc sĩ nghiên cứu tuyển chọn đánh giá cây trội trám đen canarrium nigrum swingle tại xã hoàng vân huyện hiệp hòa tỉnh bắc giang

Nghiên cứu tuyển chọn, đánh giá cây trội trám đen (Canarium nigrum Swingle) tại Bắc Giang. Tìm hiểu đặc điểm, giá trị và tiềm năng phát triển.

Chuyên ngành

Lâm học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

133
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH, CÁC BIỂU

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Tình hình nghiên cứu cây Trám đen trên thế giới

1.2. Phân loại và phân bố

1.3. Đặc điểm sinh học và kỹ thuật trồng

1.4. Nghiên cứu về phân tử các loài Trám

1.5. Thu hái, sơ chế và bảo quản

1.5.1. Kỹ thuật thu hái

1.6. Các nghiên cứu về cây Trám đen ở Việt Nam

1.7. Phân loại và phân bố

1.8. Cây Trám đen Hoàng Vân

1.9. Đặc điểm hình thái

1.10. Đặc điểm sinh thái

1.11. Công dụng và giá trị kinh tế

1.12. Chọn giống lấy quả, nhân giống, kỹ thuật lâm sinh, sâu bệnh và khai thác nhựa

1.12.1. Chọn giống trám theo hƣ ng lấy quả

1.13. Thu hái, sơ chế, bảo quản quả trám

2. MỤC TIÊU, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Địa điểm, thời gian và đối tƣợng nghiên cứu

2.1.1. Địa điểm nghiên cứu: xã Hoàng Vân, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang

2.1.2. Thời gian nghiên cứu: 42 tháng (10/2016-05/2020)

2.1.3. Đối tượng nghiên cứu: Cây Trám đen (Canarium nigrum Swingle)

2.2. Nội dung nghiên cứu

2.2.1. Nghiên cứu chọn lọc 20 cây trội Trám đen

2.2.2. Nghiên cứu đánh giá tính đa dạng di truyền 20 cây trội Trám đen

2.2.3. Nghiên cứu thành phần và hàm lượng các chất dinh dưỡng trong thịt quả của 20 cây trội Trám đen

2.2.4. Nghiên cứu tính n định, biến động về năng suất quả, khối lượng quả, kích thư c quả và tỉ lệ thịt quả của 20 cây trội Trám đen

2.3. Phƣơng phƣơng pháp nghiên cứu

2.3.1. Phương pháp luận

2.3.2. Phương pháp nghiên cứu

2.3.3. Phương pháp xử lý số liệu

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Kết quả nghiên cứu chọn lọc cây trội Trám đen tại xã Hoàng Vân, huyện Hiệp Hóa, tỉnh Bắc Giang

3.2. Kết quả nghiên cứu xác định năng suất quả và một số chỉ tiêu sinh trưởng theo cấp tu i để làm cơ sở cho chọn cây trội dự tuyển

3.3. Kết quả nghiên cứu chọn lọc cây trội dự tuyển theo cấp tu i

3.4. Kết quả nghiên cứu chọn lọc cây trội Trám đen chính thức

3.5. Kết quả nghiên cứu đánh giá tính đa dạng di truyền 20 cây trội Trám đen tại xã Hoàng Vân, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang

3.6. Kết quả nghiên cứu thành phần và hàm lƣợng các chất dinh dƣỡng trong thịt quả của 20 cây trội Trám đen tại Hoàng Vân, Hiệp Hòa, Bắc Giang

3.6.1. Hàm lượng trung bình các chất trong thịt quả của các cây trội qua 2 vụ quả trong 2 năm

3.6.2. Tính biến động về hàm lượng các chất trong thịt quả của các cây trội

3.7. Kết quả nghiên cứu tính biến động và tính ổn định tƣơng đối về năng suất quả, khối lƣợng quả, kích thƣớc quả và tỉ lệ thịt quả của 20 cây trội Trám đen tại xã Hoàng Vân, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang

3.7.1. Tính biến động và tính n định tương đối về năng suất quả của các cây trội qua 3 vụ quả trong 3 năm

3.7.2. Tính biến động và tính n định về khối lượng quả, kích thư c quả và tỉ lệ thịt quả của 20 cây trội qua 3 vụ quả trong 3 năm

KẾT LUẬN, TỒN TẠI, KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Khám phá giá trị cây Trám đen Hoàng Vân Luận văn Thạc sĩ phân tích sâu

Cây Trám đen (Canarium nigrum Swingle) từ lâu đã là một loại cây trồng đặc sản Bắc Giang quý giá, đặc biệt tại xã Hoàng Vân, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. Loại quả này không chỉ là nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng mà còn mang lại giá trị kinh tế cây trám đen đáng kể cho người dân địa phương. Tuy nhiên, việc canh tác trám đen tự phát trong nhiều năm đã dẫn đến sự không đồng đều về năng suất trám đenchất lượng quả trám đen, đe dọa tiềm năng phát triển bền vững của loài cây này. Trước thực trạng đó, một luận văn thạc sĩ nông nghiệp với tiêu đề "Luận văn thạc sĩ nghiên cứu tuyển chọn đánh giá cây trội Trám đen (Canarium nigrum Swingle) tại xã Hoàng Vân, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang" đã được triển khai nhằm tìm kiếm giải pháp.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu trám đen này là tuyển chọn cây trám đen ưu tú, những cây trội trám đen có năng suất cao và chất lượng vượt trội. Hoàng Thanh Lộc (2012) từng nhấn mạnh tiềm năng của dầu hạt trám, so sánh với dầu ô liu, cho thấy giá trị đa dạng của loài cây này. Nghiên cứu này không chỉ hướng tới việc bảo tồn nguồn gen quý mà còn tạo cơ sở khoa học để cải thiện giống, nâng cao hàm lượng dinh dưỡng trong thịt quả, góp phần vào nông nghiệp bền vững Bắc Giang. Việc xác định và đánh giá cây trám đen trội là bước đi chiến lược, đảm bảo tương lai cho sản phẩm trám đen Hoàng Vân trên thị trường. Đây là một nỗ lực quan trọng nhằm tối ưu hóa sản xuất và phát huy hết tiềm năng của trám đen đặc sản vùng Hiệp Hòa. Những phát hiện từ luận văn này cung cấp cái nhìn sâu sắc về đặc điểm sinh học và giá trị của Canarium nigrum Swingle, đồng thời đề xuất các hướng đi cụ thể cho việc khai thác và phát triển loại cây này. Sự đầu tư vào nghiên cứu tuyển chọn đánh giá cây trội trám đen Canarium nigrum Swingle tại xã Hoàng Vân Hiệp Hòa Bắc Giang là cần thiết để bảo vệ và nâng cao thương hiệu của sản phẩm địa phương.

1.1. Giới thiệu về cây Trám đen Canarium nigrum Swingle và giá trị

Cây trám đen (Canarium nigrum Swingle) thuộc chi Canarium, họ Burseraceae, phân bố rộng rãi ở các tỉnh phía Bắc và phía Nam Việt Nam. Loài cây thân gỗ lớn này có thể đạt chiều cao 25-30m, cho quả hạch hình trứng. Quả trám đen chín vào cuối tháng 8 đến tháng 10, được biết đến là một nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng. Thành phần hóa học trong thịt quả chứa protid, chất béo, đường, vitamin (C, B3, B5, B6, E, K), và khoáng chất (Ca, K, P, Fe, Mg, Mn, Zn). Ngoài giá trị thực phẩm, gỗ trám đen dùng làm ván, đồ gia dụng, nhựa cây dùng chế biến sơn, vecni, xà phòng, dầu thơm. Hạt ép dầu và làm nhân bánh. Đây là loại cây trồng đặc sản Bắc Gianggiá trị kinh tế cây trám đen cao, góp phần đáng kể vào thu nhập của nông dân.

1.2. Bối cảnh nghiên cứu tại xã Hoàng Vân Hiệp Hòa Bắc Giang

Xã Hoàng Vân, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang là một trong những vùng trọng điểm trồng trám đen với diện tích khoảng 40 ha và 1.253 cây cho thu hoạch quả. Trong đó, có 118 cây cổ thụ trên 100 tuổi và 216 cây từ 70-100 tuổi. Sản lượng hàng năm đạt 50-60 tấn quả tươi, mang lại doanh thu 4-4,5 tỷ đồng/vụ (Hoàng Thanh Lộc, 2016). Tuy nhiên, hầu hết các cây được trồng tự phát từ hạt, hoặc cây ghép không rõ nguồn gốc. Điều này dẫn đến sự khác biệt lớn về năng suất trám đenchất lượng quả trám đen. Sự cần thiết của nghiên cứu tuyển chọn đánh giá cây trội trám đen Canarium nigrum Swingle tại xã Hoàng Vân Hiệp Hòa Bắc Giang trở nên cấp bách để chuẩn hóa nguồn giống và tối ưu hóa sản xuất.

II. Thách thức gì khi nhân giống phát triển Trám đen tại Bắc Giang

Việc phát triển trám đen tại xã Hoàng Vân, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang đang đối mặt với nhiều thách thức lớn, chủ yếu xoay quanh chất lượng giống và phương pháp canh tác. Thực trạng hiện nay cho thấy đa số trám đen được trồng từ hạt, dẫn đến quần thể cây có đặc điểm sinh trưởng trám đen không đồng nhất. Điều này trực tiếp ảnh hưởng đến năng suất trám đenchất lượng quả trám đen, khiến giá trị kinh tế cây trám đen biến động và khó đạt tối ưu. Sự thiếu hụt các cây đầu dòng trám đen được tuyển chọn khoa học là rào cản chính.

Hoàng Thanh Lộc (2016) đã chỉ ra rằng, nhiều cây trám đen cổ thụ, dù có năng suất và chất lượng quả tốt, đang dần già cỗi và bị sâu bệnh, nhưng không có nguồn thay thế rõ ràng. Việc nhân giống trám đen bằng phương pháp ghép cành cũng còn gặp nhiều khó khăn, với tỷ lệ sống thấp (chỉ khoảng 15-20%) do nhựa trám nhanh khô và lớp tượng tầng mỏng. Các nghiên cứu trước đây về kỹ thuật nhân giống trám đen chưa thực sự có hệ thống để nâng cao tỷ lệ sống của cây ghép. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về một nghiên cứu trám đen chuyên sâu, tập trung vào tuyển chọn cây trám đen trội và phát triển giống trám đen chất lượng cao. Mục tiêu là xây dựng nền tảng cho một nông nghiệp bền vững Bắc Giang, nơi trám đen có thể phát triển ổn định, mang lại thu nhập bền vững cho người dân thông qua việc đánh giá cây trám đen một cách khoa học và hệ thống.

2.1. Thực trạng canh tác Trám đen tự phát Năng suất và chất lượng quả

Tại xã Hoàng Vân, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang, phần lớn cây trám đen được trồng từ hạt một cách tự phát. Điều này gây ra sự phân hóa rõ rệt về đặc điểm sinh trưởng trám đen, dẫn đến năng suất trám đenchất lượng quả trám đen không đồng đều. Một số cây có thể đạt 160 kg quả/năm, trong khi những cây khác chỉ cho 20-25 kg/năm. Quả từ các cây khác nhau cũng có sự khác biệt về cảm quan, độ bùi, thơm. Ngay cả những cây ghép cũng thường không có nguồn gốc rõ ràng, gây khó khăn cho việc quản lý chất lượng. Thực trạng này làm giảm giá trị kinh tế cây trám đen tổng thể và làm mất đi lợi thế cạnh tranh của sản phẩm trám đen Hoàng Vân trên thị trường.

2.2. Lý do cần nghiên cứu tuyển chọn cây trội trám đen ưu việt

Nhu cầu tuyển chọn cây trám đen trội xuất phát từ việc khắc phục những hạn chế của canh tác tự phát. Mục tiêu là xác định những cây trội trám đen có năng suất cao ổn định và chất lượng quả trám đen vượt trội, không chát, không sượng, bùi và thơm. Điều này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả sản xuất mà còn đóng góp vào việc bảo tồn nguồn gen quý của Canarium nigrum Swingle. Kết quả của việc đánh giá cây trám đen trội sẽ tạo ra nguồn vật liệu khởi đầu cho công tác cải thiện giống, từ đó phát triển các giống trám đen mới có năng suất và chất lượng cao hơn, đảm bảo nông nghiệp bền vững Bắc Giang. Đây là bước quan trọng để chuẩn hóa cây đầu dòng trám đen, làm nền tảng cho việc mở rộng canh tác và chế biến.

III. Cách tuyển chọn cây trội Trám đen hiệu quả ở Hoàng Vân Hiệp Hòa

Để xác định những cây trội trám đen ưu tú, luận văn thạc sĩ nghiên cứu tuyển chọn đánh giá cây trội trám đen Canarium nigrum Swingle tại xã Hoàng Vân Hiệp Hòa Bắc Giang đã áp dụng một phương pháp tuyển chọn thực vật khoa học và bài bản. Quá trình này bắt đầu bằng việc điều tra tổng quan, phỏng vấn cán bộ khuyến nông và các hộ gia đình có kinh nghiệm trồng trám đen tại xã Hoàng Vân, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. Mục đích là thu thập thông tin về đặc điểm sinh trưởng trám đennăng suất trám đen của các quần thể cây hiện có.

Tiếp theo, đề tài tiến hành lập 14 ô tiêu chuẩn (OTC) tạm thời, đại diện cho các khu vườn trồng trám đen ở nhiều độ tuổi khác nhau. Tại các OTC này, các chỉ tiêu sinh thái và sinh trưởng quan trọng như đường kính ngang ngực (D1.3), chiều cao vút ngọn (Hvn), đường kính tán (Dt) cùng với năng suất quả trám đen và tình hình sâu bệnh hại đã được ghi nhận chi tiết. Việc thu thập số liệu phân tích dữ liệu nông nghiệp này là cơ sở để xác định ngưỡng tối thiểu cho việc tuyển chọn cây trám đen dự tuyển và chính thức. Đặc biệt, tiêu chí đánh giá cây trội trám đen được đề ra là cây phải có năng suất quả cao hơn ít nhất 15% so với năng suất trung bình của quần thể cùng cấp tuổi, đồng thời chất lượng cảm quan của quả phải tốt. Phương pháp này đảm bảo tính khách quan và khoa học trong việc xác định các cây trội trám đen, tạo nền tảng vững chắc cho công tác cải thiện giống sau này.

3.1. Phương pháp xác định các chỉ tiêu sinh trưởng và năng suất quả

Trong nghiên cứu tuyển chọn đánh giá cây trội trám đen, các chỉ tiêu sinh trưởng quan trọng được đo đạc bao gồm đường kính ngang ngực (D1.3), chiều cao vút ngọn (Hvn), chiều cao dưới cành (Hdc) và đường kính tán (Dt). Các số liệu này cung cấp cái nhìn toàn diện về đặc điểm sinh trưởng trám đen của từng cây. Đối với năng suất quả trám đen, được xác định bằng cách cân tổng khối lượng quả của từng cây trong mùa thu hoạch. Việc này được thực hiện cẩn thận để đảm bảo độ chính xác. Kết quả cho thấy, năng suất quả trám đen trung bình tăng dần theo cấp tuổi, từ 7.10 kg/cây/năm ở cấp tuổi 4 đến 99.29 kg/cây/năm ở cấp tuổi 13, với hệ số biến động lớn (50.34% - 79.01%), chứng tỏ tiềm năng lớn trong việc tuyển chọn cây trám đen trội.

3.2. Quy trình chọn lọc cây trội Trám đen dự tuyển và chính thức

Quá trình tuyển chọn cây trám đen được chia thành hai giai đoạn. Giai đoạn đầu, 40 cây trội dự tuyển được xác định dựa trên lịch sử năng suất cao (vượt trung bình 15% trong 3 năm trước và năm tuyển chọn) và chất lượng quả trám đen tốt (bùi, thơm, ngon, không chát). Các chỉ tiêu sinh trưởng của chúng cũng được đo đếm. Giai đoạn hai, từ 40 cây dự tuyển, 20 cây trội trám đen chính thức đã được lựa chọn. Các cây này có năng suất quả trung bình trong 4 năm lớn hơn 15% so với cây cùng cấp tuổi của quần thể, sinh trưởng từ mức trung bình trở lên và không bị sâu bệnh. Đây là những cây đầu dòng trám đen tiềm năng, được công nhận là nguồn giống để phát triển sản xuất, góp phần vào nông nghiệp bền vững Bắc Giang.

IV. Đánh giá đa dạng gen dinh dưỡng quả Trám đen Phát hiện từ luận văn

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu tuyển chọn đánh giá cây trội trám đen Canarium nigrum Swingle tại xã Hoàng Vân Hiệp Hòa Bắc Giang không chỉ tập trung vào việc tuyển chọn cây trám đen trội mà còn đi sâu vào đánh giá cây trám đen về mặt di truyền và dinh dưỡng. Nghiên cứu trám đen này đã sử dụng các phương pháp hiện đại để phân tích tính đa dạng di truyền trám đen của 20 cây trội trám đen được chọn lọc. Đây là một bước quan trọng để hiểu rõ hơn về nguồn gen, từ đó có cơ sở khoa học cho công tác bảo tồn và cải thiện giống.

Bên cạnh đó, việc đánh giá chất lượng quả trám đen thông qua phân tích thành phần dinh dưỡng cũng được tiến hành một cách kỹ lưỡng. Đơn vị phân tích là Trung tâm phân tích và Giám định thực phẩm quốc gia, đảm bảo độ chính xác và tin cậy của dữ liệu. Các nhà nghiên cứu đã xác định hàm lượng của 21 chất dinh dưỡng trong thịt quả, bao gồm protein, lipid, đường, vitamin và khoáng chất. Kết quả phân tích dữ liệu nông nghiệp này cung cấp thông tin quý giá về giá trị kinh tế cây trám đen và tiềm năng dinh dưỡng của sản phẩm trám đen Hoàng Vân. Hiểu biết về thành phần dinh dưỡng giúp quảng bá giá trị của quả trám, cũng như định hướng cho các sản phẩm chế biến trong tương lai. Tính biến động và ổn định về năng suất quả trám đen, khối lượng, kích thước và tỉ lệ thịt quả của các cây trội cũng được theo dõi qua nhiều vụ, nhằm xác định những cây trội trám đen có tiềm năng ổn định cho việc nhân giống trám đen quy mô lớn.

4.1. Phân tích đa dạng di truyền cây trội trám đen bằng chỉ thị SSR

Để đánh giá tính đa dạng di truyền trám đen của 20 cây trội trám đen tại Hoàng Vân, đề tài đã sử dụng 25 chỉ thị SSR (Simple Sequence Repeats). Kết quả phân tích tại Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam cho thấy 23/25 chỉ thị thể hiện tính đa hình, tổng cộng 90 phân đoạn DNA được nhân bản, trong đó 79 phân đoạn đa hình (chiếm 87.78%). Các thông số như số lượng alen quan sát trung bình (Na=3.6), alen hiệu quả (Ne=2.314), chỉ số đa dạng di truyền Shannon (I=0.907), hệ số gen dị hợp tử mong đợi (He=0.610) và quan sát (Ho=0.502) đều cho thấy tính đa dạng di truyền tương đối cao. Điều này chỉ ra rằng đã xảy ra hiện tượng thụ phấn chéo giữa các cá thể trong quần thể, cung cấp nguồn gen phong phú cho công tác bảo tồn nguồn gen trám đen và phát triển giống trám đen mới.

4.2. Hàm lượng dinh dưỡng trong thịt quả của các cây trội Trám đen

Nghiên cứu đã tiến hành phân tích 21 chất dinh dưỡng trong thịt quả của 20 cây trội trám đen qua 2 vụ quả trong 2 năm. Các chỉ tiêu bao gồm hàm lượng vật chất khô, protein, lipid, năng lượng, đường tổng số, axit tổng số (tính theo axit Citric), tananh, các vitamin (C, B3, B5, B6, E, K) và các khoáng chất (Phospho, Kali, Canxi, Sắt, Magiê, Mangan, Kẽm, Đồng). Việc phân tích này do Trung tâm phân tích và Giám định thực phẩm quốc gia thực hiện, tuân thủ các tiêu chuẩn TCVN và ISO. Kết quả cung cấp thông tin chi tiết về chất lượng quả trám đen, khẳng định giá trị kinh tế cây trám đen không chỉ về năng suất mà còn về giá trị dinh dưỡng, từ đó củng cố vị thế của trám đen Hoàng Vân như một loại thực phẩm bổ dưỡng và có tiềm năng cho chế biến.

4.3. Tính ổn định năng suất và đặc điểm quả của 20 cây trội

Đề tài đã nghiên cứu tính ổn định và biến động của năng suất quả trám đen, khối lượng quả, kích thước quảtỉ lệ thịt quả của 20 cây trội trám đen qua 3 vụ quả trong 3 năm. Việc theo dõi dài hạn giúp xác định những cây có đặc tính ổn định, ít bị ảnh hưởng bởi biến động môi trường. Phương pháp này bao gồm cân khối lượng quả của từng cây, thu mẫu để đo khối lượng và kích thước từng quả, sau đó tách và cân hạt để tính tỉ lệ thịt quả. Dữ liệu này được xử lý bằng phần mềm thống kê chuyên dụng. Kết quả giúp chọn ra những cây đầu dòng trám đen thực sự tiềm năng, không chỉ cho năng suất cao mà còn ổn định về chất lượng, là yếu tố then chốt trong việc phát triển giống trám đen chất lượng cao và nông nghiệp bền vững Bắc Giang.

V. Ứng dụng và tiềm năng phát triển Trám đen tại Hiệp Hòa Bắc Giang

Những kết quả từ luận văn thạc sĩ nghiên cứu tuyển chọn đánh giá cây trội trám đen Canarium nigrum Swingle tại xã Hoàng Vân Hiệp Hòa Bắc Giang mở ra nhiều triển vọng ứng dụng và phát triển cho cây trám đen tại khu vực này. Việc xác định thành công 20 cây trội trám đen với năng suất trám đen vượt trội và chất lượng quả trám đen cao, cùng với thông tin về đa dạng di truyền trám đen, cung cấp một nguồn vật liệu giống quý giá. Điều này tạo cơ sở vững chắc cho việc xây dựng các chiến lược nông nghiệp bền vững Bắc Giang, tập trung vào việc nhân rộng các giống trám đen chất lượng.

Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bắc Giang đã công nhận 20 cây trội trám đen này là nguồn giống để phát triển sản xuất theo Quyết định số 612/QĐ-SNN ngày 3/8/2017. Đây là minh chứng rõ ràng cho tính ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu trám đen. Các kết quả về sinh học trám đen, đặc điểm nông học trám đen và thành phần dinh dưỡng của quả sẽ hỗ trợ việc phát triển các sản phẩm chế biến từ trám đen, đa dạng hóa chuỗi giá trị. Việc tăng cường kỹ thuật nhân giống trám đen hiệu quả từ các cây đầu dòng trám đen này là ưu tiên hàng đầu. Tiềm năng để trám đen Hoàng Vân trở thành sản phẩm chủ lực, mang lại giá trị kinh tế cây trám đen cao hơn và cải thiện đời sống cho người dân xã Hoàng Vân, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang, là rất lớn.

5.1. Khuyến nghị phát triển nguồn giống Trám đen chất lượng cao tại Bắc Giang

Dựa trên kết quả nghiên cứu tuyển chọn đánh giá cây trội trám đen, đề tài khuyến nghị cần tập trung vào việc nhân rộng 20 cây trội trám đen đã được chọn lọc. Đây là những cây đầu dòng trám đen có tiềm năng cao để tạo ra giống trám đen chất lượng, đảm bảo năng suất trám đenchất lượng quả trám đen ổn định. Mặc dù kỹ thuật nhân giống trám đen bằng ghép cành hiện còn khó khăn với tỷ lệ sống thấp, việc đầu tư nghiên cứu và tối ưu hóa quy trình ghép là cần thiết. Phát triển vườn tập hợp giống kết hợp khảo nghiệm giống bằng cây ghép sẽ giúp đẩy nhanh quá trình nhân giống. Mục tiêu là cung cấp đủ cây giống chất lượng cao cho người dân tại xã Hoàng Vân, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang và các vùng lân cận, góp phần vào nông nghiệp bền vững Bắc Giang.

5.2. Tiềm năng ứng dụng và giá trị kinh tế của cây Trám đen Hoàng Vân

Việc tuyển chọn cây trám đen trội không chỉ mang lại hiệu quả về năng suất mà còn nâng cao giá trị kinh tế cây trám đen tổng thể. Quả trám đen Hoàng Vân có thể được tiêu thụ tươi hoặc chế biến thành nhiều sản phẩm đa dạng như mứt trám, kem trám, tương trám, rượu trám, nước giải khát. Nghiên cứu về thành phần dinh dưỡng đã xác định giá trị sức khỏe của quả, tạo cơ sở cho việc phát triển các sản phẩm giá trị gia tăng. Tiềm năng thị trường cho các sản phẩm từ Canarium nigrum Swingle là rất lớn, đặc biệt khi chất lượng được đảm bảo từ các cây trội trám đen đã được đánh giá cây trám đen khoa học. Việc đầu tư vào chuỗi giá trị trám đen sẽ tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho người dân và củng cố vị thế của trám đen như một cây trồng đặc sản Bắc Giang.

VI. Tổng kết nghiên cứu Bảo tồn và phát triển giống Trám đen bền vững

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu tuyển chọn đánh giá cây trội trám đen Canarium nigrum Swingle tại xã Hoàng Vân Hiệp Hòa Bắc Giang đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu đề ra, mang lại những đóng góp quan trọng cho ngành nông nghiệp và lâm nghiệp tại địa phương. Nghiên cứu đã thành công trong việc tuyển chọn cây trám đen với 20 cây trội trám đen ưu tú, những cá thể có năng suất trám đenchất lượng quả trám đen vượt trội, được chứng minh qua nhiều năm theo dõi. Kết quả này không chỉ cung cấp nguồn vật liệu giống khởi đầu cho công tác bảo tồn mà còn là cơ sở vững chắc để phát triển giống trám đen chất lượng cao trong tương lai.

Thông qua việc đánh giá cây trám đen chuyên sâu, đề tài cũng đã làm rõ tính đa dạng di truyền trám đen của quần thể tại Hoàng Vân, khẳng định tiềm năng di truyền phong phú của loài Canarium nigrum Swingle. Việc phân tích thành phần và hàm lượng các chất dinh dưỡng trong thịt quả đã cung cấp cái nhìn khoa học về giá trị kinh tế cây trám đen và lợi ích sức khỏe của quả trám. Những thông tin này cực kỳ hữu ích cho việc xây dựng các chính sách phát triển, quy hoạch vùng trồng và phát triển sản phẩm từ trám đen. Hơn nữa, việc xác định tính ổn định về năng suất và các đặc điểm quả của các cây trội trám đen là tiền đề để xây dựng các cây đầu dòng trám đen đáng tin cậy. Nghiên cứu này là một minh chứng cho sự cần thiết của việc kết hợp giữa khoa học học thuật và ứng dụng thực tiễn để đạt được nông nghiệp bền vững Bắc Giang, đảm bảo sự phát triển lâu dài cho cây trám đen tại xã Hoàng Vân, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.

6.1. Tóm tắt những thành tựu chính của luận văn thạc sĩ

Đề tài luận văn thạc sĩ đã đạt được các thành tựu nổi bật: (1) Chọn lọc thành công 20 cây trội trám đen tại xã Hoàng Vân, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang, được công nhận là nguồn giống quý. (2) Đánh giá chi tiết tính đa dạng di truyền trám đen của các cây trội, khẳng định tiềm năng gen của chúng. (3) Phân tích sâu rộng thành phần và hàm lượng 21 chất dinh dưỡng trong thịt quả, cung cấp dữ liệu khoa học về chất lượng quả trám đengiá trị kinh tế cây trám đen. (4) Xác định tính ổn định và biến động về năng suất quả trám đen, khối lượng, kích thước và tỉ lệ thịt quả của các cây trội. Những thành quả này là nền tảng vững chắc cho công tác bảo tồn và cải thiện giống trám đen.

6.2. Hướng đi tương lai cho công tác bảo tồn và cải thiện giống Trám đen

Để phát huy tối đa kết quả nghiên cứu tuyển chọn đánh giá cây trội trám đen, các hướng đi tương lai cần tập trung vào: (1) Phát triển các vườn cây đầu dòng trám đen từ 20 cây trội đã chọn để cung cấp nguồn vật liệu nhân giống trám đen chất lượng. (2) Tiếp tục nghiên cứu cải tiến kỹ thuật nhân giống trám đen (như ghép cành) để nâng cao tỷ lệ sống và hiệu quả. (3) Đẩy mạnh nghiên cứu sâu hơn về sinh học trám đenđặc điểm nông học trám đen của các cây trội, đặc biệt về khả năng chống chịu trám đen với sâu bệnh và biến đổi khí hậu. (4) Phát triển các quy trình thu hái, sơ chế, bảo quản quả trám hiện đại để nâng cao giá trị kinh tế cây trám đen và kéo dài thời gian bảo quản, góp phần vào nông nghiệp bền vững Bắc Giang.

01/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Cây Trám đen (Canarrium nigrum Swingle) phân bố khá rộng ở các tỉnh phía Bắc và phía Nam của nƣớc ta. Cây Trám đen có từ lâu đời tại xã Hoàng Vân, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. Quả Trám đen đƣợc trồng tại xã Hoàng Vân là nguồn thực phẩm sạch, bổ dƣỡng, là món ăn ngon có tiếng ở Việt Nam từ xƣa. Hạt trám đƣợc ngƣời Anh, ngƣời Pháp sử dụng để chiết xuất dầu dùng trong công nghiệp, dầu thực phẩm, m phẩm, họ ví dầu Trám giống nhƣ dầu cây ôliu (Hoàng Thanh Lộc, 2012) [5].

Hiện nay, tại xã Hoàng Vân diện tích trồng Trám khoảng 40 ha, với 1.253 cây Trám đen cho thu hoạch quả. Trong đó, có 118 cây Trám cổ thụ trên 100 năm tuổi và 216 cây từ 70 -100 năm tuổi. Cây sai quả đạt tới 160 kg/năm, cây ít quả 20-25kg/năm. Hàng năm, xã Hoàng Vân cung cấp ra thị trƣờng từ 50-60 tấn quả trám tƣơi.

Giá quả Trám đen năm 2016 là 80.000 đồng/kg, tƣơng đƣơng với mỗi vụ quả ngƣời dân địa phƣơng thu đƣợc 4 – 4,5 tỷ đồng (Hoàng Thanh Lộc, 2016). Kết quả điều tra, khảo sát của Viện Cải thiện giống và Phát triển lâm sản tháng 10 năm 2016 cho thấy, cây Trám đen hầu hết đƣợc ngƣời dân trồng tự phát. Cây giống đem trồng chủ yếu là cây hạt, có một số trồng cây ghép, nhƣng cây ghép không có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng. Dẫn đến năng suất quả, đặc biệt chất lƣợng quả rất khác nhau.

Trên địa bàn, có một số cây Trám đen ở giai đoạn 40-60 năm tuổi, năng suất quả cao, chất lƣợng quả ngon đƣợc bán với giá cao, đem lại giá trị kinh tế hơn hẳn những cây khác. Hơn nữa, số lƣợng cây Trám đen cổ thụ, có năng suất và chất lƣợng quả ngon đang dần bị sâu bệnh, cây già cỗi. Đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu tuyển chọn đánh giá cây trội Trám đen (Canarrium nigrum Swingle) tại xã Hoàng Vân, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang” đƣợc thực hiện nhằm chọn lọc đƣợc cây trội có năng suất quả cao, chất lƣợng cảm quan của quả tốt làm nguồn vật liệu cho công tác bảo tồn và phát triển nguồn gen cây Trám đen tại xã Hoàng Vân, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. Đồng thời tạo cơ sở khoa học ban đầu cho công tác cải thiện giống cây Trám đen tại xã Hoàng Vân theo hƣớng nâng cao hàm lƣợng các chất dinh dƣỡng trong thịt quả ở các giai đoạn sau.

download by : skknchat@gmail.com 2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu cây Trám đen trên thế giới 1. Phân loại và phân bố Canarium là chi thực vật gồm 75 loài thuộc họ Burseraceae. Họ Burseraceae có phân bố tự nhiên ở các nƣớc nhiệt đới và á nhiệt đới từ Châu Phi, Nam Á, Đông Nam Á đến Australia.

Các loài trong chi Canarium phân bố từ phía nam Nigeria đến phía đông Madagasca, Maritus, Ấn Độ, nam Trung Quốc, các nƣớc Đông Dƣơng, Indonesia và Philippine. Chi này gồm các loài thực vật thân gỗ, có thể cao tới 30- 40m, lá kép lông chim mọc cách (Nguyễn Tiến Bân, 2003) [12]. Đặc điểm sinh học và kỹ thuật trồng Các tác giả Trung Quốc ở Hội thực vật chí (1976) giới thiệu Trám đen cho trồng rừng. Theo các tác giả Trám đen cao 15- 25 m, đƣờng kính 20- 120 cm, có phân bố chủ yếu ở các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, một phần ở tỉnh Phúc Kiến và Đài Loan.

Các nhà khoa học Trung Quốc cũng đã có những nghiên cứu về phân bố, hình thái, đặc tính sinh học, giá trị sử dụng, k thuật trồng rừng và phòng trừ sâu bệnh. Nghiên cứu về phân tử các loài Trám Nghiên cứu di truyền quần thể các loài Trám phục vụ cho công tác bảo tồn, phát triển và khai thác cũng đã đƣợc nhiều nhà nghiên cứu ở Trung Quốc, Malaysia và Nhật Bản quan tâm (Zhang et al. Zhang và cộng sự (2009) sử dụng chỉ thị SSR để phân tích cấu trúc di truyền cho loài Canarium album và loài Canarium pimela. Kết quả phân tích đã chỉ ra mức độ đa dạng di truyền bị suy giảm cao liên quan đến khả năng tăng hệ số đồng hợp tử trong các quần thể nhỏ và hẹp đồng thời cũng nói lên sự di nhập gen đáng kể giữa các vùng sinh thái.

Từ các kết quả nhận đƣợc đã giúp các nhà tạo giống đƣa ra một số biện pháp hiệu quả để download by : skknchat@gmail.com 3 phục hồi nguồn gen cho hai loài trám này (Zhang et al. Cũng theo hƣớng này, Shamsudin (2008) [29] đã sử dụng chỉ thị RAPD có sự hỗ trợ của enzyme giới hạn để nghiên cứu cấu trúc di truyền quần thể loài Canarium odontophyllum thu đƣợc từ 2 vùng Sarikei và Sibu thuộc Malaysia. Kết quả phân nhóm cho thấy có sự giao thoa di truyền giữa hai quần thể (Shamsudin, 2008) [29]. So với các loài cây thực phẩm khác, thì nghiên cứu giải mã một số vùng gen bảo thủ cho mục đích phân loại, nhận dạng một số quần thể Trám đen cũng đã đƣợc quan tâm ở Trung Quốc và Sri-Lanka (chƣa có trình tự nucleotide nào công bố cho loài Trám đen của Việt Nam).

Theo công bố của ngân hàng Genbank (2016) hiện đang lƣu giữ 532 trình tự nucleotide cho các loài thuộc chi Canarium tập trung vào vùng gen chính là gen nhân (ITS) (9 trình tự), gen lục lạp (cpDNA) và gen chức năng (NIA). Trong đó vùng gen lục lạp tập trung chủ yếu là vùng rbcL (93 trình tự), matK (25 trình tự), trnL- trnF (32 trình tự), psbA-trnH (15 trình tự), rpoC1 (1 trình tự),… 1. Thu hái, sơ chế và bảo quản a. Kỹ thuật thu hái Trên thế giới hiện nay thu hái quả trám chủ yếu theo phƣơng pháp thủ công, các nƣớc hiện đại có sử dụng máy.

Có một số loại máy điều khiển bộ phận thu quả lên tới các độ cao khác nhau của tán cây để cắt các cành có quả. Quả khi rơi xuống đất và có thể đƣợc thu thập bằng tay hoặc bằng máy (Roberto E. Chế biến và sản phẩm của quả trám Trám đƣợc trồng nhiều nơi trên thế giới, nhƣng đƣợc trồng tập trung nhiều nhất ở Trung Quốc, Philipine. Từ năm 1980- 1996, tại một số huyện của tỉnh Phúc Kiến sản lƣợng quả trám tăng từ 4,5 -12,5 lần.

Tới khoảng năm 1998, riêng tại Phúc Kiến đã có tới 150 xƣởng chế biến lớn nhỏ với hơn hai mƣơi loại sản phẩm khác nhau. Một trong những sản phẩm quan trọng từ quả trám là nhân hạt. Hƣơng vị download by : skknchat@gmail.com 4 của nhân trám khi rang thơm, hấp dẫn và giòn gần giống hạnh nhân. Nhân trám cũng đƣợc sử dụng trong quá trình chế biến socola, kem và bánh nƣớng.

Về mặt dinh dƣỡng, nhân hạt chứa 71,1% chất béo, 11,4% protein và 8,4% carbohydrate, giàu canxi, phốt pho và kali. Lipid trong nhân quả trám có thể so sánh chất lƣợng với dầu ô liu, chứa tới 59% glycerides oleic và 32-59% glycerides palmitic (Orwa et al. Nhân quả trám là một thành phần chính trong một món ăn Trung Quốc là bánh trung thu”. Tuy nhiên, nhân hạt của một số giống trám có thể bị đắng, xơ hoặc có mùi nhựa thông.

Từ sau năm 1980, chế biến trám cũng nhƣ thị trƣờng tiêu thụ trám đƣợc mở rộng rất nhanh nhƣng vẫn không đủ phục vụ nhu cầu của thị thƣờng Trung Quốc và phục vụ xuất khẩu, giá cả tăng dần, đặc biệt là các sản phẩm mứt trám. Vài năm gần đây các loại mứt trám truyền thống đã cải thiện đƣợc các chỉ tiêu cảm quan nhƣ hƣơng vị, màu sắc. Sản phẩm có tên gọi là Trám dẹt” đang đƣợc sản xuất nhiều với các loại mẫu mã khác nhau và đang đƣợc thị trƣờng rất ƣa chuộng. Ngoài mứt trám là mặt hàng truyền thống, các nghiên cứu và sản xuất thử đã và đang bắt đầu đƣa ra thị trƣờng các sản phẩm khác nhƣ các loại kem trám, tƣơng trám, rƣợu trám, nƣớc giải khát phức hợp có Trám.

Các nghiên cứu về cây Trám đen ở Việt Nam 1. Phân loại và phân bố Cây Trám đen có tên khoa học là Canarrium nigrum Swingle thuộc chi Canarium, họ Burseraceae, bộ Sapindale; chi Trám ở nƣớc ta gồm có 8 loài, trong đó 2 loài đƣợc trồng ăn quả là Trám trắng và Trám đen, loài có thể ăn quả song ít giá trị hơn là Trám 3 cạnh hay Trám hồng (C. bengalensis) (Nguyễn Tiến Bân và cs. Trám đen có phân bố khá rộng ở các tỉnh phía Bắc và phía Nam Việt Nam.

Các tỉnh phía Bắc có nhiều Trám đen mọc nhất là: Bắc Giang, Phú Thọ, download by : skknchat@gmail.com 5 Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình. Các tỉnh phía Nam có Trám đen mọc là Quảng Nam, Đăk Lăk và Khánh Hòa (Dự án Hỗ trợ Chuyên nghành Lâm sản ngoài gỗ tại Việt Nam- Pha II. Trám đen phân bố ở độ cao 500m trở xuống. Cây Trám đen Hoàng Vân Cây Trám đen đƣợc trồng từ lâu đời tại xã Hoàng Vân, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.

Xã nằm dọc theo tả ngạn sông Cầu, đất đai chủ yếu thuộc loại đất phù sa cổ, không đƣợc bồi đắp hàng năm. Đất có tầng canh tác dày, có thành phần cơ giới từ cát pha đến thịt nặng. Hiện nay, toàn xã Hoàng Vân có khoảng 1.200 cây Trám đen cho thu hoạch quả, tƣơng đƣơng với diện tích 40 ha, trong đó có khoảng hơn 100 cây Trám cổ thụ trên 100 năm tuổi và hơn 200 cây từ 70 -100 năm tuổi. Cây sai quả đạt tới 160 kg/năm, cây ít quả 20-20kg/năm.

Quả Trám đen tại Hoàng Vân ăn ngon có tiếng ở Việt Nam từ bao đời nay. Đƣợc dùng nhƣ một nguồn thực phẩm bổ dƣỡng. Hàng năm, Hoàng Vân cung cấp ra thị trƣờng khoảng 50- 60 tấn quả trám tƣơi (http://thong tinkhcn.vn/tin-tuc/detail). Giá quả Trám đen năm 2015 là 80.000đ/kg; với giá đó, ngƣời dân tại địa phƣơng thu đƣợc 4 tỷ đồng/vụ/năm.

Do đó, cây Trám đen là loài cây có tiềm năng trở thành một loài cây trồng giúp ngƣời dân giảm nghèo. Đặc điểm hình thái Trám đen là cây gỗ lớn, cao 25 -30m, đƣờng kính tới 90 cm; thân thẳng, phân cành cao. Vỏ màu nâu nhạt khi đẽo ra có nhựa mủ màu đen; toàn thân có mùi thơm hắc; gỗ nhẹ, mềm, màu xám trắng. Lá kép lông chim 1 lần lẻ, không có lá kèm.

Lá chét hình thuôn dài, dài 6- 12 cm, rộng 3- 6 cm, phiến lá cứng, giòn, mặt trên bóng, mặt dƣới hơi sẫm, đầu và đuôi lá lệch, gân bên 8-10 đôi. Cuống là chét dài 0,5 cm. Hình dáng lá của cây con thay đổi nhiều, từ lá xẻ thùy đến lá đơn, cuối cùng mới sinh lá kép nhƣ cây trƣởng thành. Hoa tự chùm hình viên chùy, thƣờng dài hơn lá, hoàn toàn nhẵn.

Hoa màu trắng nhạt, download by : skknchat@gmail.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ