Chương 1: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Chương 2: Hiện trạng tài nguyên và môi trường khu vực nghiên cứu Chương 3: Đánh giá các mô hình quản lý tại khu vực nghiên cứu và đề xuất phương án quản lý 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm Tổ chức Giáo dục, Khoa học và văn hóa Liên Hiệp Quốc, viết tắt UNESCO (United Nations Educational Scientific and Cultural Organization): là một trong những tổ chức chuyên môn lớn của Liên Hiệp Quốc, hoạt động với mục đích “thắt chặt sự hợp tác giữa các quốc gia về giáo dục, khoa học và văn hóa để đảm bảo sự tôn trọng công lý, luật pháp, nhân quyền và tự do cơ bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo”. Khái niệm di sản: Theo Y. Ahmad (2006), hiện nay có không dưới 40 văn bản mang tính quốc tế và quốc gia liên quan đến vấn đề di sản và bảo tồn di sản chủ yếu do UNESCO (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc) và ICOSMOS (Hội đồng di tích và di chỉ Quốc tế) ban hành.
Trong các văn bản này, người ta mới quan tâm đến các di sản văn hóa, ít quan tâm đến các loại hình di sản khác bao gồm di sản tự nhiên. Vì vậy một định nghĩa chung về di sản chưa được thể hiện rõ. Ahmad (2006), UNESCO và ICOSMOS hiểu khái niệm di sản từ Hiến chương Venice khác nhau vào những năm 1960. UNESCO định nghĩa di sản là các tài sản văn hóa trong khi ICOSMOS lại định nghĩa di sản là các di tích và các di chỉ.
Khái niệm này được thống nhất hơn trong Công ước của UNESCO năm 1972 về bảo tồn các di sản văn hóa và tự nhiên. Trong các văn bản trên, người ta có thể hiểu di sản bao gồm những loại hình nào nhưng chưa có một định nghĩa rõ ràng nào về di sản. Hiệp hội Lý luận về Di sản Quốc gia, Hội đồng thuật ngữ Quebec (1980) đã định nghĩa “di sản là các tác phẩm hoặc sản phẩm kết hợp giữa tự nhiên và con người, ở trạng thái nguyên vẹn của nó, tạo nên môi trường mà con người sinh sống theo không gian và thời gian. Di sản là một thực thể, sở hữu của cộng đồng, và có giá trị kế thừa mà chúng ta cần phải thừa nhận và tham gia bảo tồn 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chúng”.
Tuy nhiên, trong Bản Hiến chương về Bảo tồn di sản ở Quebec do ICOSMOS Canada ban hành năm 1982 lại cho rằng di sản là một thuật ngữ bao gồm nhiều khái niệm (a comprehensive term) trong đó có 3 thực thể chính: văn hoá vật chất (tài sản văn hoá), môi trường địa lý và môi trường nhân văn. Văn hóa vật chất hay tài sản văn hóa không chỉ bao gồm các kiến trúc thông thường và phổ biến mà còn bao gồm tất cả các bằng chứng vật chất như các hiện vật khảo cổ và dân tộc học, hình tượng, tài liệu lịch sử; đồ trang trí, nghệ thuật hay nói tóm lại là môi trường vật chất xung quanh ta. Môi trường địa lý, như bờ biển tự nhiên, núi non, đồng bằng - cảnh quan thiên nhiên có giá trị độc đáo về thẩm mỹ, đại diện; và môi trường con người bao gồm các nhóm người có phong tục và truyền thống riêng, đặc biệt hoặc cách sống của họ thích nghi với điều kiện môi trường cụ thể nào đó. Trong định nghĩa này, ICOSMOS đã bao hàm cả các môi trường tự nhiên có gắn với các hoạt động của con người hay cảnh quan văn hóa là kết quả tương tác giữa môi trường tự nhiên và con người.
Khái niệm Di sản thế giới được đề cập chính thức trong Công ước về di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới năm 1972. Theo đó, di sản thế giới là những di sản văn hóa và di sản thiên nhiên có giá trị ngoại hạng và vì vậy cần được bảo tồn [55]. Như vậy, di sản thế giới là di chỉ, di tích hay danh thắng của một quốc gia như rừng, dãy núi, hồ, sa mạc, tòa nhà, quần thể kiến trúc hay thành phố,… do các nước có tham gia Công ước Di sản thế giới đề cử cho Ủy ban Di sản thế giới, được công nhận và quản lý bởi UNESCO. Sau đó UNESCO sẽ lập danh mục, đặt tên và bảo tồn những vị trí nổi bật về văn hóa hay đặc điểm tự nhiên cho di sản nhân loại chung.
Những vị trí được đưa vào danh sách di sản thế giới có thể được nhận tiền từ Quỹ Di sản thế giới theo một số điều kiện nào đó. Ủy ban này được thành lập bởi Công ước về Bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, gọi tắt là Công ước Di sản thế giới, nó được Đại hội đồng UNESCO chấp nhận ngày 16 tháng 11 năm 1972. Trong hệ thống các danh hiệu của UNESCO, di sản thế giới là danh hiệu danh giá nhất và lâu đời nhất. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khái niệm Di sản văn hóa: Theo Công ước Di sản thế giới [55] thì di sản văn hóa là: - Các di tích: Các tác phẩm kiến trúc, tác phẩm điêu khắc và hội họa, các yếu tố hay các cấu trúc có tính chất khảo cổ học, ký tự, nhà ở trong hang đá và các công trình sự kết hợp giữa công trình xây dựng tách biệt hay liên kết lại với nhau mà do kiến trúc của chúng, do tính đồng nhất hoặc vị trí trong cảnh quan, có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật và khoa học.
- Các di chỉ: Các tác phẩm do con người tạo nên hoặc các tác phẩm có sự kết hợp giữa thiên nhiên và nhân tạo và các khu vực trong đó có các di chỉ khảo cổ có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhân học. Khái niệm Di sản thiên nhiên thế giới: Theo Công ước Di sản thế giới [55] thì di sản thiên nhiên là: - Các đặc điểm tự nhiên bao gồm các hoạt động sáng tạo vật lý hoặc sinh học hoặc các nhóm các hoạt động kiến tạo có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm thẩm mỹ hoặc khoa học. - Các hoạt động kiến tạo địa chất hoặc địa lý tự nhiên và các khu vực có ranh giới được xác định chính xác tạo thành một môi trường sống của các loài động vật, thực vật đang bị đe dọa có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm khoa học hoặc bảo tồn. - Các địa điểm tự nhiên hoặc các vùng tự nhiên được phân định rõ ràng, có giá trị nổi bật toàn cầu về mặt khoa học, bảo tồn hoặc thẩm mỹ.
Di sản hỗn hợp (Di sản kép): Năm 1972, Ủy ban Di sản thế giới [55] đưa ra khái niệm di sản hỗn hợp hay còn gọi là di sản kép, cảnh quan văn hóa thế giới để miêu tả các mối quan hệ tương hỗ nổi bật giữa văn hóa và thiên nhiên của một số khu di sản. Một địa danh được công nhận là di sản thế giới hỗn hợp phải thỏa mãn ít nhất là một tiêu chí về di sản văn hóa và một tiêu chí về di sản thiên nhiên. Mô hình quản lý di sản: 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Có nhiều cách định nghĩa về mô hình quản lý nhưng cách hiểu chung nhất về một mô hình quản lý là lựa chọn của những người có trách nhiệm quản lý liên quan đến việc xác định mục tiêu quản lý, thúc đẩy các nỗ lực, kết nối các hoạt động và phân bổ tài nguyên nhằm đạt được mục tiêu quản lý. Vậy mô hình quản lý di sản là lựa chọn của các cơ quan quản lý di sản (UBND tỉnh nơi có di sản) liên quan đến việc xác định mục tiêu quản lý di sản, các kế hoạch phân bổ nguồn lực, chính sách, quy định đối với các hoạt động khai thác và sử dụng di sản.
Khái quát về bảo tồn giá trị di sản Bảo tồn di sản là một phần quan trọng trong xu hướng phát triển tất yếu của xã hội văn minh, nó là chức năng chúng ta nhìn thấy được trong xã hội hiện nay. Cách thức bảo tồn được tiếp cận và thực hiện thay đổi từ văn hóa này đến văn hóa khác. Thuật ngữ bảo tồn có ý nghĩa và ý nghĩa khác nhau cho từng lĩnh vực. Việc bảo tồn di sản đóng một vai trò quan trọng trong xã hội hiện đại.
Trong lĩnh vực bảo tồn di sản, các giá trị rất quan trọng để quyết định những gì cần bảo tồn, nó là một yếu tố quyết định quan trọng trong thực tiễn hiện tại và tương lai của lĩnh vực bảo tồn. Bảo tồn không chỉ là một quá trình lưu giữ mà còn là một cách để tạo và tái tạo di sản. Báo cáo nghiên cứu của Viện bảo tồn Getty tại Los Angeles [69] trình bày các kết quả nghiên cứu về chủ đề của các giá trị và lợi ích của việc bảo tồn di sản văn hóa. Theo báo cáo, bảo tồn di sản văn hóa luôn phải đối mặt với những thách thức trên ba phương diện là trạng thái tự nhiên, bối cảnh quản lý, ý nghĩa văn hóa và giá trị xã hội.
Hiện nay, phần lớn các nghiên cứu về bảo tồn vẫn tập trung vào những thách thức của phương diện trạng thái tự nhiên, cụ thể là sự suy giảm của vật chất và sự can thiệp có thể tập trung vào các mục tiêu trái ngược với bối cảnh hiện tại. Bảo tồn là một quá trình lâu dài. Quá trình này là sự sáng tạo và được thúc đẩy, củng cố bởi các giá trị của cá nhân, tổ chức và cộng đồng. Trong báo cáo, các tác giá chỉ ra rằng bảo tồn di sản là vô cùng cần thiết và nó phải được công nhận là quá trình xã hội hóa chính trị cao, gắn liền với các quá trình kinh tế, chính trị và xã hội.
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.