CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ SỰ HÀI LÒNG CÔNG VIỆC Trong chương một này, tác giả sẽ trình bày cơ sở lý thuyết về sự hài lòng công việc qua những kết quả của các nhà nghiên cứu trước. Chương này gồm các phần: Lý thuyết về sự hài lòng công việc của nhân viên, một số lý thuyết làm cơ sở nghiên cứu, các nghiên cứu liên quan đến sự hài lòng công việc của nhân viên của các nhà nghiên cứu khác, các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc của nhân viên; từ đó rút ra những kết luận phục vụ cho việc xây dựng thiết kế nghiên cứu về sự hài lòng công việc của nhân viên. TỔNG QUAN VỀ SỰ HÀI LÒNG CÔNG VIỆC VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÀI LÒNG CÔNG VIỆC Các nhà nghiên cứu cho rằng nếu như nhân viên hài lòng với công việc thì năng suất làm việc sẽ tăng lên, cho dù giữa sự hài lòng của nhân viên và năng suất làm việc chỉ có mối tương quan ở mức trung bình (Iaffaldano và Muchinsky, 1985). Có rất nhiều công trình nghiên cứu về sự hài lòng và các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của nhân viên tại nơi làm việc.
Sự hài lòng này được định nghĩa và đo lường theo cả hai khía cạnh: hài lòng chung đối với công việc và hài lòng với từng thành phần của công việc. Định nghĩa về sự hài lòng chung trong công việc Theo Vroom (1964) [23] hài lòng trong công việc là trạng thái mà người lao động có định hướng hiệu quả rõ ràng đối với công việc trong tổ chức. Theo Weiss (1967) [24] định nghĩa rằng sự hài lòng trong công việc là thái độ về công việc được thể hiện bằng cảm nhận, niềm tin và hành vi của người lao động. Theo Locke (1976) [17] thì cho rằng hài lòng trong công việc được hiểu là người lao động thực sự cảm thấy thích thú đối với công việc của họ.
Luan van 9 Quinn và Staines (1979) [19] cho rằng hài lòng trong công việc là phản ứng tích cực đối với công việc. Với Spector (1997) [22] sự hài lòng trong công việc đơn giả là việc người ta cảm thấy thích công việc của họ và các khía cạnh công việc của họ như thế nào. Vì nó là sự đánh giá chung, nên nó là một biến thái độ. Quan điểm của Ellickson và Logsdon (2001) [13] thì cho rằng sự hài lòng trong công việc được định nghĩa chung là mức độ người nhân viên yêu thích công việc của họ, đó là thái độ dựa trên sự nhận thức của người nhân viên (tích cực hay tiêu cực) về công việc hoặc môi trường làm việc của họ.
Nói đơn giản hơn, môi trường làm việc đáp ứng được nhu cầu, giá trị và tính cách của người lao động thì mức độ hài lòng công việc càng cao. Còn Kreitner và Kinicki (2007) [16] sự hài lòng công việc chủ yếu phản ánh mức độ một cá nhân yêu thích công việc đó đối với công việc của mình. Với các quan điểm về sự hài lòng ở trên, định nghĩa về sự hài lòng của Weiss là đầy đủ và bao quát hơn cả, nên luận văn sẽ sử dụng định nghĩa này cho nghiên cứu của mình. Định nghĩa về sự hài lòng liên quan đến các thành phần công việc Theo Smith, Kendal và Huilin (1969) [21], sự hài lòng với các thành phần hay khía cạnh của công việc là thái độ ảnh hưởng và ghi nhận của nhân viên về khía cạnh khác nhau trong công việc (bản chất công việc, cơ hội đào tạo và thăng tiến, lãnh đạo, đồng nghiệp, tiền lương) của họ.
Còn Schemerhon (1993), Kreitner và Kinicki (2007) [16] định nghĩa sự hài lòng trong công việc như là sự phản ứng về mặt tình cảm và cảm xúc đối với các khía cạnh khác nhau của công việc như: vị trí công việc, sự giám sát của cấp trên, mối quan hệ với đồng nghiệp, nội dung công việc, sự đãi ngộ và các phần thưởng gồm: thăng tiến, điều kiện vật chất, của môi trường làm việc cũng như cơ cấu tổ chức. Luan van 10 Các cách tiếp cận đều phù hợp cho việc đo lường mức độ hài lòng của nhân viên trong công việc, tuy nhiên sử dụng cách tiếp cận theo thành phần của công việc sẽ giúp các nhà quản trị biết rõ hơn về điểm mạnh, điểm yếu trong việc điều hành tổ chức và hoạt động nào được nhân viện đánh giá cao nhất hoặc kém nhất. Do đó, khi nghiên cứu cần kết hợp việc xem xét cả mức độ hài lòng chung lẫn sự hài lòng từng khía cạnh công việc. CÁC HỌC THUYẾT VỀ CÔNG VIỆC VÀ HÀI LÒNG CÔNG VIỆC 1.
Lý thuyết hai nhân tố của Herzberg (1959) [14] Thuyết này chia các nhân tố làm hai loại: các nhân tố động viên và các nhân tố duy trì. Các nhân tố động viên gồm thành tựu, sự công nhận của người khác, bản chất công việc, trách nhiệm công việc, sự thăng tiến và sự tiến bộ, và triển vọng của sự phát triển. Nếu nhân viên được đáp ứng sẽ mang lại sự hài lòng trong công việc cho họ, ngược lại nhân viên sẽ không có sự hài lòng. Các nhân tố duy trì gồm chính sách Công ty, sự giám sát của cấp trên, lương bổng, mối quan hệ với cấp trên và đồng nghiệp, điều kiện làm việc, đời sống cá nhân, vị trí công việc và sự đảm bảo của công việc.
Nếu được đáp ứng sẽ không có sự bất mãn trong công việc, ngược lại sẽ dẫn đến sự bất mãn, (Efere, P 2005). Như vậy, Herzberg đã tách biệt tương đối hai nhóm nhân tố này và cho rằng chỉ có những nhân tố động viên mới có thể mang lại sự hài lòng cho nhân viên và nếu không làm tốt các nhân tố duy trì sẽ dẫn đến sự bất mãn của nhân viên. Nhân viên bất Nhân viên Nhân viên bất Nhân tố Nhân tố mãn và không không còn bất mãn và không có động lực mãn nhưng có động lực duy trì không có động động viên lực Hình 1. Thuyết hai nhân tố của Herzberg Nhiều nghiên cứu đã đưa ra kết quả không ủng hộ sự phân chia hai nhóm nhân tố như trên của Herberg cũng như bác bỏ việc cho rằng các Luan van 11 nhân tố duy trì không mang lại sự hài lòng trong công việc.
Thực tế cho thấy rằng các nhân tố thuộc hai nhóm trên đều có ảnh hưởng ít nhiều đến sự hài lòng trong việc. Tuy nhiên, thông qua lý thuyết của Hezberg ta cũng có thể thấy được tầm quan trọng của nhân tố động viên trong việc mang lại sự hài lòng trong công việc cũng như tác động của các nhân tố duy trì trong việc dẫn đến sự bất mãn của nhân viên. Thuyết nhu cầu của Abraham Maslow (1943) [18] Theo Abraham Maslow, nhu cầu của con người có sự phân cấp từ nhu cầu thấp nhất đến nhu cầu cao nhất. Khi một nhóm các nhu cầu được thỏa mã thì loại nhu cầu này không còn là động cơ thúc đẩy nữa.
Thuyết nhu cầu của Maslow sắp xếp nhu cầu con người từ thấp lên cao. Khi con người được thỏa mãn tương đối về nhu cầu ở mức thấp thì họ có xu hướng phát sinh nhu cầu ở mức cao hơn. Nó trở thành động lực khuyến khích hành vi của con người. Ở mỗi người, kết cấu nhu cầu khác nhau nên việc doanh nghiệp thỏa mãn nhân viên không thể đồng nhất tất cả mọi người mà cần tìm hiểu cụ thể cá nhân, nhân viên.
Một nhân viên vừa mới được tuyển dụng đang cần việc làm và có thu nhập cơ bản thì việc tạo cơ hội việc làm và thu nhập cho bản thân nhân viên này là vấn đề cần được quan tâm hàng đầu. Còn một nhân viên đã công tác có “thâm niên” trong công ty, công việc đã thuần thục và tích lũy được khá nhiều kinh nghiệm công tác, tiền lương đã được trả cao thì nhu cầu của nhân viên đó là phải đạt được vị trí, chức vụ trong doanh nghiệp hoặc tổ chức. Việc đề bạt chức vụ công tác mới ở vị trí cao hơn hiện tại cho nhân viên này sẽ khuyến khích người này làm việc hăng say và có hiệu quả hơn… Vì vậy, tổ chức cần nghiên cứu và tìm hiểu cụ thể nhu cầu của nhân viên mình để có biện pháp hợp lí nhằm đáp ứng và thúc đẩy nhân viên làm việc hiệu quả. Luan van 12 Đào tạo và phát triển Nhu cầu tự nghề nghiệp hoàn thiện Nhu cầu tôn Địa vị chức vụ trọng Làm việc theo Nhu cầu xã hội nhóm, giao lưu Điều kiện làm việc, Nhu cầu an toàn Công việc ổn định Lương và các Nhu cầu cơ bản khoản phúc lợi Hình 1.
Tháp nhu cầu trong doanh nghiệp (Nguồn: http//:omyopera.com – Nhóm thực hiện: Mullover, Tổng hợp từ nhiều nguồn: Wikipedia, Chungta.com, Quản trị học…) Qua lí thuyết này, ta thấy rõ sự cung cấp của tổ chức tạo động cơ thúc đẩy bên ngoài, tác động đến sự hài lòng của nhân viên.Tổ chức sẽ đáp ứng như thế nào cho phù hợp để nhân viên hài lòng và có động cơ làm việc. Mong muốn của nhân viên là đích xuất phát cho động cơ thúc đẩy. Lý thuyết ERG của Clayton P.Alderfer (1969) [6] Lý thuyết ERG của Alderfer xác định những tác động đến nhu cầu ảnh hưởng đến hành vi của người lao động. Lý thuyết này được phân loại thành 03 nhóm nhu cầu: (a) Nhu cầu tồn tại (existence needs) như đói, khát, an toàn, v.v…; (b) Nhu cầu liên đới (relatedness needs) như mối quan hệ gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và cấp trên, v.v…; (c) Nhu cầu tăng trưởng (growth needs) như nhu cầu tự trọng và khẳng định bản thân.
Luan van 13 Giống như lý thuyết nhu cầu cấp bậc của Maslow, lý thuyết này có ba cấp độ nhu cầu khác nhau nhưng những nhu cầu của người lao động cũng có thể xuất hiện ở cả ba cấp độ cùng lúc, đồng thời nhu cầu này có thể bù đắp đắp cho nhu cầu kia nếu nhu cầu đó chưa hài lòng người lao động. Chẳng hạn, một người lao động không hài lòng về mức độ khó khăn của công việc mà họ đang làm nhưng ngược lại họ được bù đắp trong việc nhận tiền lương và phúc lợi tương xứng. Như vậy, quan điểm về lý thuyết ERG của Alderfer khác hẳn quan điểm lý thuyết nhu cầu cấp bậc của Maslow, ba nhu cầu được xem xét theo ba khía cạnh khác nhau đối với người lao động, nhu cầu của họ đều xuất hiệu trong cả ba khía cạnh cùng lúc về nhu cầu tồn tại, nhu cầu liên đới, nhu cầu phát triển. Lý thuyết ERG của Alderfer được ứng dụng trong đo lường mức độ hài lòng của người lao động dưới 03 khía cạnh về nhu cầu: tồn tại, liên đới và tăng trưởng.