Chương I: Tổng quan cơ sở lý luận về phân vùng sinh thái phục vụ nuôi trồng thủy sản. Chương II: Các nhân tố tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến nuôi trồng thủy sản tại tỉnh Bến Tre. Chương III: Nghiên cứu phân vùng sinh thái phục vụ nuôi trồng thủy sản tại tỉnh Bến Tre. 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG I.
TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN VÙNG SINH THÁI PHỤC VỤ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 1. Cơ sở lý luận về phân vùng sinh thái 1. Cơ sở sinh thái học 1. Các quy luật sinh thái học Các quy luật này thể hiện mối liên hệ khách quan, tất yếu, bản chất, phổ biến được lặp đi lặp lại giữa các hiện tượng, đối tượng nghiên cứu của sinh thái học trong tự nhiên.
(1) Quy luật giới hạn sinh thái Theo Shelford (1911): “Đối với mỗi nhân tố sinh thái, sinh vật chỉ thích ứng với một giới hạn tác động nhất định, đặc biệt là các nhân tố sinh thái vô sinh. Sự tăng hay giảm cường độ tác động của nhân tố sinh thái ngoài giới hạn thích hợp của cơ thể sẽ tác động đến khả năng sống của sinh vật. Khi cường độ tác động vượt qua ngưỡng cao nhất hoặc thấp nhất so với khả năng chịu đựng của cơ thể thì sinh vật không tồn tại được” (dẫn theo Nguyễn An Thịnh, 2011) [6]. Mỗi loài có một giới hạn đặc trưng về một nhân tố sinh thái nhất định.
Các loài khác nhau có ngưỡng sinh thái và điểm cực thuận (điểm mà tại đó sinh vật phát triển tốt nhất) khác nhau. Trong cùng một loài, ngưỡng sinh thái và điểm cực thuận phụ thuộc vào các yếu tố như tuổi, giới tính, trạng thái cơ thể của cá thể. (2) Quy luật tác động qua lại giữa sinh vật và môi trường Phát biểu quy luật: “Trong mối quan hệ tương hỗ giữa sinh vật với môi trường, không những các nhân tố sinh thái của môi trường tác động lên sinh vật, mà ngược lại, các sinh vật cũng có ảnh hưởng đến các nhân tố sinh thái của môi trường, làm thay đổi tính chất của các nhân tố sinh thái đó”. Những nội dung chính của quy luật: - Môi trường tác động thường xuyên lên cơ thể sinh vật làm chúng không ngừng biến đổi, ngược lại, sinh vật cũng có tác động qua lại làm cải biến môi trường và có thể làm thay đổi cả tính chất của một nhân tố sinh thái nào đó.
Ví dụ, trồng mới và bảo vệ rừng cải thiện đáng kể những điều kiện sinh thái, cải thiện nguồn nước, tăng độ phì đất và làm giàu khu hệ động thực vật của vùng. - Trong tác động qua lại giữa sinh vật và môi trường, các nhân tố sinh thái có thể tác dụng bổ sung cho nhau (bù trừ) nhưng không thay thế cho nhau được. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com (3) Quy luật tác động tổng hợp các nhân tố sinh thái Phát biểu quy luật: “Môi trường bao gồm nhiều nhân tố sinh thái có tác động qua lại, thể hiện ở sự biến đổi các nhân tố này có thể dẫn đến sự thay đổi của các nhân tố khác. Tất cả các nhân tố gắn bó với nhau tạo thành một tổ hợp sinh thái tác động lên sinh vật”.
Quy luật tác động tổng hợp của các nhân tố sinh thái yêu cầu nghiên cứu một vấn đề cần phải tính đến những khâu đồng bộ liên quan hay nói cách khác tổng quát hơn là phải nhìn hiện tượng và giải thích trên cơ sở tổng hợp nhiều mặt cùng một lúc. Đây cũng là cơ sở xuất phát của quan điểm hệ thống sinh thái ngày nay. Thuyết quy mô và thuyết thứ bậc (1) Thuyết quy mô Theo Turner (2001): “Quy mô là phạm vi không gian và thời gian của một hệ thống hoặc một quá trình xác định động lực và đặc trưng của một hệ thống”. Địa lý học sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau chỉ quy mô không gian: diện tích lãnh thổ hoặc quy mô lãnh thổ; tỷ lệ bản đồ hoặc tỷ lệ ảnh.
Khi tăng quy mô không gian nghiên cứu sẽ xuất hiện thêm các yếu tố mới, dẫn tới tăng tính bất đồng nhất của lãnh thổ. Thay đổi độ phân giải không gian và thời gian nhỏ nhất sẽ dẫn tới thay đổi các thành phần, tương tác và động lực. Nghiên cứu ở quy mô lớn có ưu thế về mức độ khái quát cao, trong khi đó nghiên cứu ở quy mô nhỏ có ưu thế về mức độ chi tiết. Điều này cung cấp một cái nhìn tổng thể đối với cấu trúc hoặc quá trình được quan trắc.
Có thể hiểu quy mô là phạm vi không gian hoặc thời gian của một đối tượng hoặc một quá trình, khác nhau phụ thuộc vào cấp tổ chức. Thuyết quy mô “nghiên cứu quy luật biến đổi của các đối tượng hoặc các quá trình khi thay đổi quy mô thời gian và không gian”. Đặc điểm sắp xếp không gian của các yếu tố khác nhau theo các quy mô không gian và thời gian khác nhau, do đó, ảnh hưởng tới đặc điểm phân bố, tương tác và thích nghi của các cấp tổ chức sinh vật. (2) Thuyết thứ bậc Thuyết này còn được gọi là “thuyết về tính chất thứ bậc của các hệ thống không gian”.
Tính thứ bậc xảy ra khách quan trong các hệ thống tự nhiên và hệ thống xã hội. Nội dung của thuyết đề cập tới “các bậc tổ chức của các hệ thống ở các quy mô không - thời gian khác nhau và cơ chế phân chia các hệ thống phức tạp thành các cấp tổ chức”. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Các hệ thống sinh thái với bản chất phức tạp và đa quy mô, được tổ chức theo các quy mô không gian và thời gian khác nhau (thường được biểu diễn trên hệ tọa độ không - thời gian). Điều này dẫn tới tiên đề quan trọng về tính thứ bậc của hệ thống phân loại không gian tự nhiên.
Những hệ thống phức hợp bao gồm một loạt các hiện tượng sinh thái diễn ra, trong đó mỗi quá trình có những đặc trưng về quy mô không - thời gian riêng biệt. Sự phân cấp thích hợp để xem xét các tập hợp của những hiện tượng xảy ra tại một số quy mô không gian và thời gian. Thuyết quy mô và thuyết thứ bậc có mối quan hệ chặt chẽ với nhau: “Quy mô biểu thị đặc trưng không - thời gian của một đối tượng hoặc một quá trình”. Điều này khác nhau đối với các quy mô và các cấp phân vị khác nhau.
Đối tượng hoặc quá trình xảy ra ở quy mô lớn, thời gian dài thường được xếp vào cấp phân vị trên. Ngược lại, đối tượng hoặc quá trình xảy ra ở quy mô nhỏ, khoảng thời gian ngắn thường được xếp vào cấp phân vị dưới. Một số yếu tố ảnh hưởng đến các quá trình hệ sinh thái (1) Tính bất đồng nhất không gian Các nghiên cứu quá trình HST nhấn mạnh vào nguyên nhân và hệ quả của tính bất đồng nhất không gian tới tốc độ của quá trình, ảnh hưởng của vị trí lãnh thổ tới các quá trình HST; sự di động theo chiều ngang của vật chất (ví dụ nước, chất dinh dưỡng, trầm tích) và cơ chế ảnh hưởng của cấu trúc và biến đổi lãnh thổ tới sự di động này. Có nhiều phương pháp được sử dụng để nghiên cứu các quá trình HST.
Trong quá trình nghiên cứu, điều quan trọng nhất là xác định được các quá trình hệ thống tích hợp trong các khu vực bất đồng nhất (Rastetter, 1992) (dẫn theo Nguyễn An Thịnh, 2011) [6]. Cụ thể là phát triển các phương pháp tích hợp các nghiên cứu quá trình HST xảy ra riêng rẽ ở quy mô HST được thực hiện bằng thí nghiệm hoặc thực nghiệm. (2) Quy mô lãnh thổ Các nghiên cứu về ảnh hưởng của tính bất đồng nhất hoặc cấu trúc không gian tới các quá trình HST được thực hiện ở nhiều quy mô không gian khác nhau: - Đặc điểm bất đồng nhau ở quy mô nhỏ: hầu hết các nghiên cứu đều tập trung vào đặc điểm cấu trúc hoặc các hệ quả của tính bất đồng nhất không gian của các hệ chuyển tiếp (ecotone) giữa các vùng, ảnh hưởng liền kề ở quy mô nhỏ. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Đặc điểm bất đồng nhất ở quy mô lớn: các nghiên cứu thường tập trung vào các lãnh thổ bất đồng nhất có quy mô rất lớn, đặc biệt là ở quy mô tiểu lục địa hoặc lớn hơn.
Những nghiên cứu này thường quan tâm tới sự tương tác ở cấp vĩ mô giữa lớp phủ mặt đất (hoặc thảm thực vật) với khí hậu, và thường gắn liền với các nghiên cứu BĐKH toàn cầu. Vấn đề ngoại suy hoặc tích hợp thông tin từ các quy mô nhỏ để tạo ra các thông tin ở quy mô lớn. Tóm lại, những nghiên cứu đều đề cập tới các quy mô thường gặp của lãnh thổ, từ quy mô toàn cầu cho tới quy mô vùng và địa phương. Các nghiên cứu ở quy mô nhỏ thường thiên về sinh thái học (về chức năng) hơn là cấu trúc do tập trung nhiều vào các quá trình HST xảy ra trong một vùng riêng biệt hoặc các vùng liền kề.
Ngược lại, các nghiên cứu ở quy mô lớn thường quan tâm tới các hệ thống Trái Đất không thuần túy là sinh thái học. Phân vùng sinh thái (1) Vùng “Vùng” là một khái niệm được sử dụng khá phổ biến trong quá trình phát triển KT-XH của mỗi quốc gia. Có các quan niệm và nhận biết về vùng khác nhau, như “vùng là một phần của bề mặt Trái Đất, nó dựa vào một hoặc nhiều loại tiêu chí phân biệt với phần lân cận, “vùng là không gian, là một trong các hình thức tồn tại của vật chất” (Thôi Công Hào và nnk, 2002). Theo Lê Bá Thảo (1998), vùng là một bộ phận (một đơn vị Taxon cấp cao) của lãnh thổ, có một sắc thái đặc thù nhất định, hoạt động như một hệ thống do có những mối quan hệ tương đối chặt chẽ giữa các thành phần cấu tạo nên nó, cũng như những mối quan hệ có chọn lọc và với các không gian các cấp bên ngoài.
Theo Từ điển Bách khoa địa lý Xô Viết (1998): “Vùng là một lãnh thổ được tách ra dựa trên cơ sở tập hợp các dấu hiệu (hoặc hiện tượng) có quan hệ mật thiết với nhau”. Còn theo Từ điển Tiếng Việt (1994): “Vùng là phần đất đai, hoặc là khoảng không gian tương đối rộng có những đặc điểm nhất định về tự nhiên và xã hội, phân biệt với các phần khác ở xung quanh”.