Chương 1 nghiên cứu tổng quan về hệ thống radar, lịch sử ra đời,phân loại radar và dải băng tần mà radar sử dụng. Trình bày các tham số chính, khái niệm về hệ thống radar và các nguyên lý cơ bản xử lý tín hiệu trong radar như là tìm hiểu về bộ lọc thích hợp, hiệu ứng Doppler, xác suất báo động nhầm trong hệ thống radar. Chương 2 nghiên cứu về hệ thống radar MIMO, cách phân loại hệ thống radar MIMO hiện nay. Tìm hiểu và nghiên cứu về hệ thống radar MIMO kết hợp gồm các tham số nhận dạng, độ phân giải, xác suất phát hiện mục tiêu, độ chính xác… cùng với tìm hiểu và nghiên cứu về hệ thống radar MIMO thống kê gồm các tham số nhận dạng, hiệu suất phát hiện mục tiêu, độ chính xác.
Sau đó so sánh được các xác suất phát hiện mục tiêu trong radar MIMO kết hợp và radar 5 MIMO thống kê nhằm để ứng dụng tùy vào điều kiện để ứng dụng trong thực tế. Chương 3 nghiên cứu về hàm Ambiguity trong radar và sử dụng hàm Ambiguity để ước lượng các tham số mục tiêu bằng cách so sánh sự đồng dạng của tín hiệu thu được và tín hiệu phát. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn Luận án là tài liệu để nghiên cứu về hệ thống radar, các nguyên lý cơ bản về kỹ thuật radar dùng cho định vị mục tiêu di động. Giới thiệu các nghiên cứu mới về radar MIMO, lý thuyết quan trọng cho radar MIMO có thể sử dụng chúng trong nghiên cứu về radar MIMO trong tương lai.
Nghiên cứu các tính chất của hàm Ambiguity, ứng dụng hàm Ambiguity trong việc xác định mục tiêu di động, sử dụng matlab thực hiện mô phỏng hàm Ambiguity để ước lượng các tham số định vị mục tiêu, kết quả nghiên cứu có thể làm cơ sở để nâng cao khả năng phát hiện mục tiêu di động trong hệ thống radar hiện đại và làm tài liệu tham khảo cho các kỹ thuật viên và sinh viên quan tâm đến lĩnh vực dẫn đường hàng không. 6 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG RADAR 1. Khái niệm hệ thống radar Radar là tên viết tắt của “Radio Dectection and Ranging” có nghĩa là phương tiện dùng sóng vô tuyến điện để phát hiện và xác định vị trí mục tiêu. Nguyên lý hoạt động chung của Radar là bức xạ năng lượng sóng điện từ ra không gian, sóng được truyền thẳng đến mục tiêu và sau đó phản xạ trở lại.
Máy thu Radar sẽ thu nhận các xung phản xạ về và tiến hành các thao tác kỹ thuật để tách lọc các thông tin cần thiết để xác định và phát hiện chính xác vị trí của mục tiêu cũng như một số đặc điểm của mục tiêu. Lịch sử radar Radar với nghĩa là tìm kiếm và đo đạc bằng sóng vô tuyến điện, radar được phát minh bởi Samuel M Tucker và F.Furth vào năm 1940 và sử dụng đầu tiên trong hải quân Mỹ. Radar là hệ thống thiết bị điện tử sử dụng sóng vô tuyến để phát hiện và xác định vị trí của các vật thể, mục tiêu trong vùng không gian quan sát. Radar đã và đang được ứng dụng mạnh mẽ trong nhiều lĩnh vực dân sự như điều khiển không lưu trong ngành hàng không, giám sát tốc độ trong giao thông giám sát khí tượng địa hình, dự báo thời tiết… Ngày nay, radar có thể hiểu là thuật ngữ chung cho các hệ thống phát hiện, dò tìm, thăm dò vị trí của các vật thể hay mục tiêu bằng các dạng năng lượng khác nhau, không nhất thiết là sóng điện từ như sóng âm, sóng ánh sáng, hay sử dụng năng lượng nhiệt.
Kỹ thuật radar ngày càng được mở rộng và ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, như dùng sóng điện từ thăm dò dưới lòng đất (radar địa thám), thăm dò dự báo thời tiết (radar thời tiết); dùng sóng âm thăm dò trong cơ thể người (siêu âm), thăm dò dưới lòng nước sử dụng kỹ thuật sonar. 7 Hệ thống radar phát hiện và đo đạc tham số mục tiêu từ xa thông qua hệ thống thu phát sóng điện từ và xử lý sóng điện từ.1: Nguyên lý radar Nguyên lý cơ bản của radar là bộ phát sóng bức xạ sóng điện từ định hướng trong vùng không gian quan sát. Nguồn năng lượng sóng điện từ gặp các đối tượng (mục tiêu radar) sẽ phản xạ một phần năng lượng về hướng thiết bị thu sóng điện từ của radar. Sau khi được khuếch đại ở thiết bị thu, các tín hiệu phản xạ cần thiết sẽ được tách ra để đưa vào khối phân tích và xử lý tín hiệu radar thu được.
Căn cứ vào sự thay đổi thông số của hai tín hiệu phát và tín hiệu thu được, hệ thống radar có thể xác định được vị trí của mục tiêu và các thông tin khác về mục tiêu (như vận tốc, quỹ đạo. Phân loại radar Mục đích của việc phân loại là nhằm chia tập hợp cac đài radar thành từng nhóm có những dấu hiệu chung không phụ thuộc vào tính đa dạng của các giải pháp kỹ thuật và kết cấu của từng đài riêng lẻ để tiện cho việc phân tích các đặc điểm cấu trúc đài radar theo quan điểm kỹ thuật hệ thống[4]. Do vậy thường phân các đài radar theo các dấu hiệu chiến thuật và các dấu hiệu kỹ thuật hình 1. 8 Các dấu hiệu chiến thuật thường gồm: Công dụng của đài radar, Số lượng tọa độ đo được, Mức độ cơ động của đài, v.
Các dấu hiệu kỹ thuật thường gồm: Dải sóng làm việc của đài, Phương pháp radar được sử dụng trong đài, Phương pháp đo cự ly hoặc dạng các tín hiệu phát, Số lượng kênh radar độc lập.2: Phân loại các đài radar Theo các dấu hiệu chiến thuật, có thể chia các đài radar thành các loại sau: - Phát hiện xa các mục tiêu trên không (radar cảnh giới), - Phát hiện các mục tiêu trên không và dẫn đường cho máy bay tiêm kích đến các mục tiêu đó (radar cảnh giới và dẫn đường), - Phát hiện các mục tiêu bay thấp, - Chỉ thị mục tiêu cho tổ hợp tên lửa phòng không, - Chuyên dụng. Radar cảnh giới: để trinh sát phát hiện các mục tiêu trên không ở cự ly xa. Loại đài này thường đo 2 tọa độ: cự ly và phương vị của mục tiêu với độ chính xác vừa phải. Công suất phát của đài lớn.
Độ cao của mục tiêu có thể được xác định rất sơ lược hoặc được xac định từ đài radar chuyên đo cao với độ chính xác cao. Radar cảnh giới và dẫn đường: là khâu cung cấp thông tin chủ yếu trong hệ thống dẫn đường cho may bay tiêm kích bay đến các mục tiêu trên không. 9 Để đảm bảo dẫn đường cần thông tin về vị trí không gian của các mục tiêu và các máy bay tiêm kích, do vậy radar cần đo được cả ba tọa độ: cự ly, phương vị và độ cao với độ chính xac đủ đảm bảo dẫn đường thành công. Radar phát hiện mục tiêu bay thấp: để trinh sát các mục tiêu bay thấp.
Radar loại này có búp sóng rà thấp sát mặt đất, làm việc ở dải sóng cm hoặc dm, có thiết bị chế áp nhiễu tiêu cực phản xạ từ mặt đất, công suất phát nhỏ, gọn nhẹ, cơ động. Radar chỉ thị mục tiêu cho tổ hợp tên lửa phòng không cần có cự ly tác dụng đủ xa sao cho sau khi nhận được chỉ thị mục tiêu từ nó, cac phương tiện hỏa lực phòng không đủ thời gian chuẩn bị để tiêu diệt mục tiêu ở tầm xa nhất. Thông tin radar (về cả 3 tọa độ) cần đủ chính xac đảm bảo cho các đài điều khiển tên lửa bám sát ngay được mục tiêu mà không cần sục sạo. Radar chuyên dụng chẳng hạn như các radar có độ chính xác cao, radar dùng để phủ vùng nón mù đỉnh đầu, v.
Theo các dâu hiệu kỹ thuật có thể chia các radar theo dải sóng, theo phương pháp radar, theo phương pháp đo cự ly, theo số lượng kênh radar độc lập. - Theo phương pháp radar có thể chia thành các radar chủ động (có trả lời thụ động hoặc chủ động) và thụ động như đã trình bày ở trên. - Theo phương pháp đo cự ly có thể chia thành hai nhóm lớn: radar bức xạ xung và radar bức xạ liên tục. Radar bức xạ xung (PR) có ưu điểm chính là đơn giản trong việc đo cự ly, về mặt kỹ thuật cho phép dễ dàng sử dụng chung một anten cho cả phát và thu.
Nhược điểm của nó là cần phải dùng máy phát công suất xung lớn, khá phức tạp việc đo tốc độ mục tiêu (đặc biệt khi cần độ chính xác cao). Radar bức xạ liên tục (CW) cho phép tách mục tiêu theo tốc độ và đo đơn trị tốc độ trong dải tốc độ khá rộng, công suất phát không cần lớn. Nhược điểm của loại này là việc khử ghép giữa tuyến thu và phát rất phức tạp, thiết bị đầu cuối cũng rất phức tạp khi cần quan sát nhiều mục tiêu theo nhiều tham số. Băng tần của radar Các đài radar thường hoạt động ở tần số kéo dài từ 220 MHz đến 35 GHz, nhưng đây không phải là giới hạn[12].
Radar có thể được vận hành ở tần số dưới và trên dải tần này tuy nhiên nguyên tắc hoạt động cơ bản là giống nhau cho các tần số khác nhau. Việc lựa chọn tần số hoạt động phù hợp tùy thuộc vào ứng dụng, như được mô tả dưới đây Thấp hơn HF (dưới 3 MHz): Tín hiệu radar ở các tần số này đôi khi được gọi là sóng mặt đất khi chúng đi theo độ cong của trái đất. Một phần đáng kể của năng lượng bức xạ có thể được truyền đi ngoài đường chân trời của radar thông qua nhiễu xạ. Tuy nhiên, cần có anten lớn để định hướng chùm tia; mức nhiễu RF cao do sự tán xạ từ mặt đất và các tín hiệu khác như truyền thông vô tuyến.
Dải tần số này không phù hợp với hầu hết các ứng dụng radar vì những yếu tố này HF (3 đến 30 MHz): Sự phản xạ của sóng trời từ tầng điện ly có thể dẫn đến hiện tượng phản hồi không mong muốn có thể là một vấn đề. Phần trên của dải tần số này đã được sử dụng cho thiên văn học radar sau khi nhận được phản hồi từ bầu khí quyển ion mặt trời. Một lần nữa băng tần này không phù hợp với hầu hết các ứng dụng radar. VHF (30 đến 300 MHz): Do phổ tần hiện tại đông đúc tại tần số VHF, các radar hiện đại không được tìm thấy trong dải này.
Tuy nhiên, đây là băng tần kinh tế nhất và được tổ chức hàng không dân dụng quốc tế ICAO sử dụng trong dẫn đường hàng không dân dụng.