MỞ ĐẦU 1.1 Giới thiệu chung về đề tài Mọi cơ thể sống bao gồm động vật và thực vật đều có cấu tạo từ các tế bào và mô, chúng được sắp xếp lại với nhau theo cấu trúc ba chiều. Ví dụ, ở thực vật có hoa, cụ thể là trái cây (quả) là một đối tượng sinh học có cấu trúc phức tạp được tạo dựng từ vô số loại tế bào và mô sinh học [1] (Hình 1. Các tế bào sinh học này gồm có dịch nội bào (ICF), màng tế bào có hoặc không có thành tế bào, nằm lơ lửng trong dịch ngoại bào (ECF); chúng phản ứng một cách ‘lạ thường’ đối với tín hiệu điện xoay chiều. Dưới tác dụng của tín hiệu điện kích thích xoay chiều, các tế bào, mô sinh học tạo ra một trở kháng điện sinh học phức tạp hay còn gọi là trở kháng sinh học – phụ thuộc vào thành phần của mô và tần số của tín hiệu xoay chiều áp vào [2, 3].
Do đó đáp ứng tần số của trở kháng của mô sinh học bị ảnh hưởng rất lớn bởi tình trạng sinh lý và hóa lý của chúng và thay đổi tùy theo từng đối tượng. Ngay cả khi trong cùng một đối tượng, trở kháng điện sinh học cũng thay đổi từ mô này sang mô khác, chúng cũng thay đổi theo tình trạng sức khỏe của mô [5, 6] tùy thuộc vào sự thay đổi sinh lý và hóa lý xảy ra trong mô. Do đó, nghiên cứu về trở kháng sinh học của mô có thể cung cấp nhiều thông tin về giải phẫu. Hơn nữa, vì trở kháng điện sinh học của mô phụ thuộc vào tần số tín hiệu, các nghiên cứu đa tần số về trở kháng điện của các mô sinh học có thể được sử dụng như một công cụ tiềm năng để thăm dò không xâm lấn các đặc tính sinh lý hoặc bệnh lý của chúng [3].1 Cấu trúc của hoa và quả cà chua Hiện nay, có rất nhiều phương pháp thăm dò không xâm lấn như phân tích trở kháng điện sinh học (BIA) [4-6], phổ trở kháng điện (EIS) [1, 7, 8], điện từ sinh học/phép đo biến đổi thể tích dựa trên trở kháng (IPG) [9], trở kháng tim mạch (ICG) [10] và 1 LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐH BÁCH KHOA Tp.
HCM chụp cắt lớp trở kháng điện (EIT) [11] đang được sử dụng để nghiên cứu, mô tả đặc tính mô dựa trên trở kháng điện sinh học. Trong đó, EIS được sử dụng phổ biến hơn trong một số lĩnh vực ứng dụng so với BIA, IPG và ICG vì nó cho thấy được sự thay đổi của trở kháng theo tần số. Ngoài ra, EIS có thể dùng để nghiên cứu đặc tính không xâm lấn của vật liệu sinh học cũng như phi sinh học trong miền tần số; trong khi, BIA, IPG và ICG chỉ được sử dụng trong lĩnh vực sinh học. Mặt khác, BIA, IPG và ICG được áp dụng trên mô sinh học ở một tần số cụ thể.
BIA, IPG và ICG đều là các phương pháp phân tích trở kháng cung cấp các giá trị trở kháng của mẫu mô như giá trị tổng thể, trong khi đó EIS tính toán và phân tích trở kháng điện ở các tần số khác nhau cho phép chúng ta có được không chỉ các giá trị trở kháng của mẫu mô như giá trị tổng thể ở tần số cụ thể nào đó (thường là 50 kHz) mà nó còn cung cấp thông tin để hiểu một số hiện tượng điện sinh học phức tạp như sự phục hồi điện môi (dielectric relaxation) và phân tán điện môi (dielectric dispersions) xảy ra bên trong tế bào. Vậy nên, đứng trước tiềm năng phát triển của EIS cũng như tầm quan trọng trong việc nghiên cứu các tính chất sinh học thông qua sự thay đổi trở kháng của đối tượng sinh học, luận văn này tập trung vào thiết kế mô hình thiết bị đo đơn giản, cơ động và thử nghiệm đo trở kháng sinh học của trái cây. Dữ liệu trở kháng thu được sẽ được tính toán, xử lý bằng phần mềm chuyên dụng OriginPro. Sau đó, chương trình phân tích phổ EIS sẽ tính toán, trích xuất và tìm ra mô hình mạch điện tương đương đại diện cho sự thay đổi của từng loại trái cây.
Các kết quả đạt được có thể dùng để đánh giá chất lượng của trái cây và làm tiền đề cho các nghiên cứu sau này về trở kháng sinh học.2 Mục tiêu và nhiệm vụ luận văn 1.1 Mục tiêu luận văn Thiết kế mô hình thiết bị đo đơn giản và cơ động, có thể sử dụng đo nhanh trở kháng sinh học phục vụ chẩn đoán nhanh tình trạng cây trái, rau củ. Mạch thiết kế sử dụng mạch đo trở kháng EVAL-AD5933EBZ.2 Nhiệm vụ luận văn 2 LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐH BÁCH KHOA Tp.1 Lý thuyết Tìm hiểu các khái niệm cơ bản và cơ sở lý thuyết liên quan đến trở kháng sinh học; nguyên lý hoạt động của EIS, ưu và nhược điểm của các cấu hình điện cực dùng để đo. Tìm hiểu về cách thu nhận và xử lý dữ liệu của phương pháp đo đa tần số. Tìm hiểu cách sử dụng các chương trình như AD5933 Evaluation Software, OriginPro, EIS Spectrum Analyser.2 Thực nghiệm Thử nghiệm và đánh giá mạch đo dựa trên kết quả thí nghiệm các mạch điện RC từ đơn giản đến phức tạp.
Đưa ra một quy trình chuẩn để đo đạc. Tiến hành đo thử nghiệm trên một số loại trái cây nhằm đánh giá một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng của chúng. Đánh giá kết quả thu nhận được và đưa ra hướng phát triển. 3 LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐH BÁCH KHOA Tp.
HCM CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Khái niệm về trở kháng Về khía cạnh vật lý, một mạch điện thường được mô hình hóa gồm ba yếu tố mang điện lý tưởng: điện trở (R), tụ điện (C) và cuộn cảm (L). Mỗi phần tử đều có một mối quan hệ đặc trưng giữa điện áp (V) và dòng điện (I). Điện trở, ký hiệu là R, liên quan đến khả năng cản trở dòng điện trong mạch. Nó mô tả mối quan hệ giữa điện áp đặt lên một phần tử và dòng điện chạy qua phần tử đó [12].
Mối quan hệ này được biểu diễn bằng định luật Ohm và được thể hiện bằng công thức 2.1) Khi điện trở được đo bằng tín hiệu dòng điện một chiều (DC), điện trở hoàn toàn là điện trở thuần. Tuy nhiên, đối với điện trở của tụ điện, nó lại được xem như một điểm kết nối mở (có điện trở là vô cùng) và điện trở của cuộn cảm là một điểm nối tắt (điện trở bằng 0). Chúng hoàn toàn không có ý nghĩa trong mạch điện DC. Do vậy, về mặt toán học, để mô hình hóa tụ điện và cuộn cảm, ta phải dùng khái niệm trở kháng điện.
Khái niệm trở kháng điện (electrical impedance) đã được Oliver Heaviside giới thiệu lần đầu tiên vào những năm 1880 [12]. Trở kháng điện (Z) không chỉ mô hình hóa đặc tính của điện trở mà còn mô tả khả năng điều chỉnh, thay đổi sự tích trữ điện của tụ điện và cuộn cảm. Bởi vì ‘hành vi’ của tụ điện và cuộn cảm phụ thuộc vào tần số, nên trở kháng của nó được đo bằng cách đặt vào một tín hiệu điện áp kích thích xoay chiều (AC) có biên độ nhỏ, ( )= + ∗ sin( ) (2.2) vào mẫu vật đang đo kiểm (SUT) và đo dòng điện cảm ứng, ( ) = + sin( + ) (2.3) Tương tự như định luật Ohm, trở kháng được tính bằng lấy điện áp chia cho dòng điện. Trở kháng được mô tả là một số phức, nó có thể được biểu diễn dưới dạng tọa độ cực gồm độ lớn trở kháng (|Z|) và độ lệch pha phụ thuộc tần số ().
4 LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐH BÁCH KHOA Tp. Các tham số dạng sóng sin được tính toán từ các tín hiệu thu được bằng thuật toán fitting algorithm trong miền thời gian (Grossi et al., 2012a) hoặc bằng cách áp dụng thuật toán biến đổi Fourier nhanh (Yoo và Park, 2000). Theo công thức Euler = cos( ) +j ∗ sin( ), dạng cực của trở kháng cũng có thể được biểu diễn dưới dạng Descartes (Đề-các) gồm phần thực của trở kháng ( ) và phần ảo của trở kháng ( ). Điều này được minh họa bằng đồ thị hình 2.
Phương trình 2.5 biểu diễn trở kháng bằng 3 dạng khác nhau: ( ) ( )= =| | = + (2.5) ( ) Trong một mạch điện thuần trở, đáp ứng điện áp xoay chiều (AC) cùng pha với tín hiệu kích thích, tức là độ lệch pha luôn bằng không. Tuy nhiên, đối với tụ điện và cuộn cảm, do đặc tính lưu trữ điện (tức điện kháng (reactance)) làm cho dạng sóng của tín hiệu đáp ứng bị trễ hoặc sớm pha một cách tương ứng trong miền thời gian. Sự sai lệch về thời gian giữa tín hiệu kích thích và tín hiệu đáp ứng được gọi là độ lệch pha, là tỷ số giữa thành phần điện trở và thành phần điện kháng của tín hiệu đầu ra [12]. Giá trị độ lệch pha được tính toán bằng cách lấy phần ảo của trở kháng chia cho phần thực của trở kháng như công thức 2.6) 5 LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐH BÁCH KHOA Tp.1 Đồ thị biểu diễn tín hiệu điện áp và dòng điện trong miền thời gian [12] Hình 2.2 Đồ thị biểu diễn trở kháng phức ở dạng tọa độ cực và tọa độ Đề-các: Trở kháng Z, độ dịch pha , phần thực và phần ảo của trở kháng trong mặt phẳng phức [12] 2.2 Cấu tạo tế bào sinh học và nguồn gốc của trở kháng sinh học 2.1 Cấu tạo của tế bào sinh học Các mô sinh học, bao gồm mô động vật và mô thực vật, được hình thành từ các đơn vị sống gọi là tế bào sinh học (Hình 2.3a, b) [14, 15] chúng được sắp xếp trong không gian ba chiều (3D) để tạo nên các cấu trúc 3D của các mô động vật và thực vật (Hình 2.
Các tế bào này đều có dịch nội bào (ICF) được bao bọc bởi một lớp màng. Trong đó, các tế bào động vật (Hình 2.3a) chỉ có một lớp màng bao bọc, gọi là màng tế bào (CM); trong khi các tế bào thực vật (Hình 2.3b) có thêm một lớp màng bao bọc khác gọi là vách (thành) tế bào để bảo vệ các tế bào và độ bền vững cơ học của chúng. Thông thường, các tế bào sinh học nằm trong một chất nền (matrix) gọi là dịch ngoại bào (ECF), dịch này gồm các phân tử ngoại bào để cung cấp hỗ trợ cấu trúc và sinh hóa cho các tế bào trong mô [14, 15]. 6 LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐH BÁCH KHOA Tp.