Tổng quan nghiên cứu

Tỉnh Quảng Ngãi sở hữu nguồn tài nguyên nước mặt tương đối phong phú với tổng lượng dòng chảy trung bình nhiều năm đạt khoảng 12,15 tỷ m3 trên diện tích tự nhiên 5.153 km2. Nguồn nước tập trung chủ yếu tại 4 hệ thống sông lớn gồm sông Trà Bồng, sông Trà Khúc, sông Vệ và sông Trà Câu. Tuy nhiên, nguồn nước này phân bố rất không đồng đều theo không gian và thời gian. Lượng mưa hàng năm dao động từ 1.700 mm ở vùng đồng bằng đến hơn 3.500 mm ở vùng núi cao, trong đó 70% đến 80% tổng lượng nước dồn dập trong mùa lũ kéo dài 3 đến 4 tháng (từ tháng IX đến tháng XII), gây lũ lụt nghiêm trọng. Ngược lại, mùa khô kéo dài tới 8 đến 9 tháng chỉ chiếm từ 20% đến 30% tổng lượng nước năm, gây ra tình trạng hạn hán và thiếu nước cục bộ gay gắt.

Trong bối cảnh kinh tế địa phương chuyển dịch mạnh mẽ với sự phát triển của Khu kinh tế Dung Quất quy mô trên 10.300 ha và dân số năm 2012 đạt 1.227.000 người, nhu cầu khai thác nước cho công nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt tăng vọt. Tình trạng tranh chấp nguồn nước giữa các ngành kinh tế đã bắt đầu xuất hiện. Vấn đề cốt lõi đặt ra là việc thiếu các đánh giá tổng thể và công cụ khoa học để phân bổ nguồn nước hợp lý, phát huy tối đa giá trị kinh tế mà vẫn bảo vệ môi trường sinh thái.

Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá hiện trạng tài nguyên nước mặt, xác định nhu cầu dùng nước của các ngành và ứng dụng mô hình toán thủy văn hiện đại nhằm thiết lập các kịch bản phân bổ nước tối ưu cho các mốc năm 2012, 2020 và tầm nhìn 2030. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp cơ sở khoa học giúp giảm thiểu mâu thuẫn sử dụng nước, nâng cao hiệu quả kinh tế trên mỗi mét khối nước và bảo đảm dòng chảy môi trường bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết cân bằng nước hệ thống lưu vực sông theo phương trình bảo toàn khối lượng tổng quát: tổng lượng nước vào trừ tổng lượng nước ra bằng độ thay đổi lượng nước trữ trong lưu vực qua các thành phần mưa, bốc thoát hơi, dòng chảy mặt và dòng chảy ngầm. Khung lý thuyết này kết hợp chặt chẽ với nguyên tắc Quản lý tổng hợp tài nguyên nước (IWRM), coi lưu vực sông là một đơn vị quản lý thống nhất, phân chia và chia sẻ nguồn nước công bằng theo thứ tự ưu tiên: sinh hoạt dân sinh, công nghiệp trọng điểm, nông nghiệp tưới tiêu và duy trì dòng chảy môi trường.

Nghiên cứu ứng dụng các mô hình thủy văn và quy hoạch tài nguyên nước chuyên sâu:

  • Mô hình WEAP (Water Evaluation And Planning System) do Viện Môi trường Stockholm phát triển, phục vụ bài toán mô phỏng cân bằng nước động, tích hợp mạng lưới sông hồ, các điểm lấy nước và quy tắc ưu tiên vận hành.
  • Mô hình mưa - dòng chảy TANK dạng bể chứa, dùng để mô phỏng và khôi phục dòng chảy tháng tại các lưu vực không có trạm quan trắc.
  • Hệ thống thông tin địa lý GIS kết hợp mô hình số độ cao DEM và SWAT2000 để phân chia lưu vực.

Các khái niệm chuyên ngành cốt lõi được định lượng rõ ràng gồm: dòng chảy môi trường (DCMT), mô đun dòng chảy (đạt 70 đến 80 l/s/km2), hệ số biến sai dòng chảy năm (Cv từ 0,46 đến 0,55) và tần suất bảo đảm cấp nước thiết kế P = 75% và P = 85%.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng chuỗi số liệu khí tượng thủy văn thực đo liên tục 30 năm (1981 - 2010) tại các trạm thủy văn đại biểu: trạm Sơn Giang trên lưu vực sông Trà Khúc (diện tích khống chế 2.706 km2) và trạm An Chỉ trên lưu vực sông Vệ (diện tích khống chế 854 km2), cùng mạng lưới trạm đo mưa Ba Tơ, Trà Bồng, Minh Long, Mộ Đức, Giá Vực.

Quy trình chọn mẫu và phân tích dữ liệu được thực hiện khoa học:

  • Phương pháp phân vùng thủy văn: Sử dụng ArcView SWAT2000 xử lý dữ liệu địa hình số để chia toàn bộ tỉnh Quảng Ngãi thành 13 tiểu lưu vực độc lập tương đối, khớp nối hoàn toàn với địa giới hành chính của 14 huyện, thị xã, thành phố.
  • Phương pháp hiệu chỉnh và kiểm định mô hình thủy văn: Chuỗi số liệu 30 năm của mô hình TANK được chia thành hai giai đoạn độc lập: giai đoạn 1981 - 1995 dùng để hiệu chỉnh bộ thông số bể chứa, và giai đoạn 1996 - 2010 dùng để kiểm định. Chỉ số hiệu quả Nash-Sutcliffe tại trạm Sơn Giang và An Chỉ đạt mức tin cậy cao, bảo đảm tính pháp lý và khoa học khi tính toán dòng chảy đến cho 7 nhánh sông chính.
  • Phương pháp phân tích xác suất thống kê: Ứng dụng phân phối tần suất lý luận Adreianop để xác định dòng chảy kiệt thiết kế ứng với tần suất 85% và phân tích nhu cầu nước theo quy chuẩn QCXDVN 01:2008/BXD. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là khả năng phản ánh chính xác tương tác thủy văn phức tạp và hỗ trợ mô phỏng đa kịch bản với độ chính xác cao.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tổng lượng tài nguyên nước mặt toàn tỉnh Quảng Ngãi đạt khoảng 12,15 tỷ m3/năm, nhưng tập trung chủ yếu ở sông Trà Khúc (6,97 tỷ m3, chiếm 57,3%) và sông Vệ (2,5 tỷ m3, chiếm 20,6%), trong khi sông Trà Bồng đạt 1,38 tỷ m3 và sông Trà Câu chỉ đạt 0,76 tỷ m3. Mô đun dòng chảy bình quân toàn tỉnh đạt 70 đến 80 l/s/km2, thuộc nhóm cao tại vùng Duyên hải Nam Trung Bộ.

Thứ hai, mức độ biến động dòng chảy cực kỳ khắc nghiệt giữa các mùa và các năm. Lượng nước 3 tháng mùa lũ chiếm tới 65% đến 75% tổng lượng cả năm, trong khi 9 tháng mùa kiệt chỉ chiếm 30% đến 35%. Trong mùa khô, hai thời kỳ kiệt sâu xuất hiện vào tháng IV và tháng VIII với lưu lượng chỉ chiếm khoảng 2% đến 2,6% dòng chảy năm. Chênh lệch lưu lượng giữa năm nhiều nước và năm ít nước gấp 5 đến 6 lần; biên độ giữa lưu lượng đỉnh lũ lớn nhất và lưu lượng nhỏ nhất tại trạm Sơn Giang chênh nhau tới 1.314 lần (lưu lượng lũ lớn nhất đạt 18.314 m3/s).

Thứ ba, nhu cầu sử dụng nước của các ngành kinh tế tăng trưởng với tốc độ rất nhanh. Năm 2012, nhu cầu nước cho 11.070 cơ sở sản xuất công nghiệp đạt 180 triệu m3/năm (tương đương 365.000 m3/ngày), trong đó riêng Khu kinh tế Dung Quất chiếm 110 triệu m3/năm (300.000 m3/ngày). Cấp nước sinh hoạt tiêu thụ hơn 26,5 triệu m3/năm (nông thôn chiếm 21 triệu m3, đô thị chiếm 5,5 triệu m3). Ngành nông nghiệp tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn nhất với trên 70% tổng lượng nước tiêu thụ.

Thứ tư, tính toán cân bằng nước cho thấy trong điều kiện tự nhiên không có công trình điều tiết, tình trạng thiếu nước xảy ra nghiêm trọng vào các tháng IV, V, VII và VIII tại các khu tưới hạ lưu sông Trà Khúc, hạ lưu sông Vệ và vùng ven biển Bình Sơn, Đức Phổ.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu cân bằng nước được lượng hóa chi tiết trên mô hình WEAP và minh họa qua hệ thống biểu đồ diễn biến thiếu nước giai đoạn hiện trạng 2012, 2020 và 2030 theo 3 phương án điều phối (PA1, PA2, PA3). Biểu đồ cắt giảm lượng nước thiếu và bảng tỷ lệ bảo đảm cấp nước chỉ rõ rằng phương án kết hợp tối ưu (PA2 và PA3) mang lại hiệu quả vượt trội.

Khi đưa các công trình hồ chứa lớn vào vận hành điều tiết đa mục tiêu như hồ Đăk Đrinh 1 (dung tích hữu ích 220,8 triệu m3, công suất 107 MW), hồ Nước Trong 1 (dung tích phòng lũ và cấp nước hạ du), cùng đập dâng Thạch Nham, tỷ lệ bảo đảm cấp nước cho các khu công nghiệp và đô thị đạt 100%, tỷ lệ bảo đảm cho các khu tưới nông nghiệp tăng từ mức dưới 65% lên trên 85%.

Nguyên nhân chính của tình trạng thiếu nước tại địa phương không phải do khan hiếm tổng lượng dòng chảy mà do thiếu công trình tích trữ điều tiết mùa lũ sang mùa kiệt và sự bất cập trong phân bổ liên vùng. So với các quy hoạch thủy lợi truyền thống chỉ tính toán tĩnh cho từng công trình riêng lẻ, việc mô hình hóa WEAP trên 13 tiểu lưu vực cho phép tính toán dòng chảy chuyển tiếp và bảo đảm duy trì dòng chảy môi trường hạ lưu liên tục, hạn chế hiện tượng xâm nhập mặn sâu vào lòng sông trong mùa kiệt.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế và chính sách phân bổ nguồn nước: Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi cùng Sở Tài nguyên và Môi trường cần sớm ban hành Quy chế điều phối và giám sát chia sẻ tài nguyên nước mặt trên 4 lưu vực sông chính. Quy định rõ thứ tự ưu tiên: bảo đảm 100% nhu cầu nước sinh hoạt (đạt tiêu chuẩn 80 đến 120 lít/người/ngày), ưu tiên cấp nước cho các cụm công nghiệp mũi nhọn tại Khu kinh tế Dung Quất, KCN Tịnh Phong, KCN Quảng Phú, tiếp theo là cấp nước tưới nông nghiệp và duy trì dòng chảy môi trường sau các công trình đập; lộ trình triển khai hoàn thành trong giai đoạn 2015 - 2020.

Thứ hai, tối ưu hóa hạ tầng điều tiết và vận hành liên hồ chứa: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với các chủ hồ thủy điện, thủy lợi ban hành quy trình vận hành liên hồ chứa thời gian thực đối với hệ thống hồ Đăk Đrinh 1 (dung tích 220,8 triệu m3), hồ Nước Trong, hồ Núi Ngang và đập Thạch Nham. Mục tiêu duy trì lưu lượng xả về hạ du sông Trà Khúc trong các tháng cao điểm mùa kiệt (tháng IV và tháng VIII) đạt tối thiểu từ 35 m3/s đến 50 m3/s, giảm tỷ lệ thất thoát nước tưới xuống dưới 15% vào năm 2025.

Thứ ba, thực thi giải pháp tài chính và kinh tế tài nguyên nước: Áp dụng cơ chế định giá dịch vụ nước thô lũy tiến đối với hơn 11.070 cơ sở công nghiệp và dịch vụ trên địa bàn tỉnh; thành lập Quỹ bảo vệ và phục hồi nguồn nước lưu vực sông Trà Khúc và sông Vệ do Sở Tài chính chủ trì quản lý, thực hiện thu phí từ năm 2018.

Thứ tư, nâng cao năng lực giám sát và bảo vệ môi trường nước: Chi cục Thủy lợi và Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia cần lắp đặt hệ thống trạm quan trắc tự động lưu lượng và chất lượng nước tại cửa ra của 13 tiểu lưu vực; đồng thời chuyển đổi cơ cấu cây trồng, nhân rộng mô hình tưới tiết kiệm nước trên diện tích hơn 50.000 ha đất canh tác nông nghiệp trước năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường: Lãnh đạo và cán bộ chuyên môn tại Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ngãi và các tỉnh ven biển miền Trung; sử dụng tài liệu làm khung tham chiếu khoa học trong việc lập quy hoạch tài nguyên nước, thẩm định cấp phép khai thác nguồn nước mặt và kiểm soát dòng chảy môi trường.
  • Kỹ sư quy hoạch thủy lợi và đơn vị vận hành hồ chứa: Các chuyên gia tại Công ty Khai thác công trình thủy lợi Quảng Ngãi, các ban quản lý nhà máy thủy điện Đăk Đrinh, Nước Trong; ứng dụng bộ thông số mô hình TANK và WEAP để tính toán kế hoạch xả nước, điều tiết dung tích hồ và phân phối nước tưới vụ Đông Xuân, Hè Thu.
  • Học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành Thủy văn, Quy hoạch tài nguyên nước: Giảng viên và học viên tại các viện nghiên cứu, trường đại học kỹ thuật chuyên ngành; tham khảo quy trình tích hợp GIS - SWAT - TANK - WEAP, kỹ thuật xử lý chuỗi số liệu thủy văn 30 năm và phương pháp kiểm định mô hình toán.
  • Ban quản lý các khu công nghiệp và doanh nghiệp khai thác nước: Ban Quản lý Khu kinh tế Dung Quất và chủ đầu tư các khu công nghiệp Quảng Phú, Tịnh Phong, Phổ Phong; sử dụng số liệu dự báo nhu cầu nước đến năm 2030 để thiết kế mở rộng công suất nhà máy cấp nước và xây dựng chiến lược dự phòng nguồn nước sản xuất bền vững.

Câu hỏi thường gặp

Mô hình WEAP đóng vai trò gì trong giải pháp phân bổ tài nguyên nước tại Quảng Ngãi? Mô hình WEAP đóng vai trò là công cụ mô phỏng cân bằng nước hệ thống động lực, tích hợp đồng bộ dữ liệu thủy văn của 13 tiểu lưu vực với nhu cầu khai thác của 11.070 cơ sở công nghiệp và hơn 1,22 triệu dân, giúp đánh giá định lượng mức độ thiếu hụt và so sánh hiệu quả cấp nước của các kịch bản phân bổ.

Tại sao mùa khô ở Quảng Ngãi kéo dài gây căng thẳng nguồn nước dù tổng lượng nước năm rất lớn? Mặc dù tổng dòng chảy đạt 12,15 tỷ m3/năm, lượng nước phân bố cực đoan khi 70% đến 80% tập trung vào 3 tháng mùa lũ. Mùa khô kéo dài 9 tháng chỉ nhận 20% đến 30% lượng nước năm, đặc biệt tháng IV và tháng VIII chỉ đạt xấp xỉ 2% dòng chảy năm, dẫn đến thiếu hụt cục bộ nghiêm trọng.

Nhu cầu sử dụng nước cho công nghiệp và sinh hoạt của tỉnh được dự báo biến động ra sao? Năm 2012, công nghiệp tiêu thụ khoảng 180 triệu m3/năm (riêng Khu kinh tế Dung Quất cần 110 triệu m3/năm), nước sinh hoạt tiêu thụ 26,5 triệu m3/năm. Đến năm 2020 và 2030, nhu cầu công nghiệp và đô thị tăng trưởng trên 14%/năm, đòi hỏi phải ưu tiên chuyển đổi phân bổ từ nông nghiệp sang công nghiệp.

Phương pháp nào được sử dụng để xác định dòng chảy tại các tiểu lưu vực không có trạm đo thủy văn? Nghiên cứu sử dụng công cụ GIS SWAT2000 phân chia 13 tiểu vùng, sau đó ứng dụng mô hình mưa dòng chảy TANK tháng được hiệu chỉnh và kiểm định qua chuỗi số liệu 30 năm (1981 - 2010) tại trạm Sơn Giang và An Chỉ với chỉ số Nash cao để khôi phục dòng chảy chính xác cho các tiểu vùng.

Giải pháp công trình then chốt nào giúp giải quyết bài toán thiếu nước hạ du sông Trà Khúc và sông Vệ? Giải pháp then chốt là vận hành điều tiết phối hợp giữa các hồ chứa thượng lưu gồm hồ Đăk Đrinh 1 (dung tích hữu ích 220,8 triệu m3), hồ Nước Trong 1 và đập dâng Thạch Nham theo Phương án 2 và 3, bảo đảm tỷ lệ cấp nước cho nông nghiệp và công nghiệp đạt trên 85%.

Kết luận

  • Đánh giá toàn diện và hệ thống hóa nguồn tài nguyên nước mặt tỉnh Quảng Ngãi với tổng lượng dòng chảy đạt 12,15 tỷ m3/năm trên 4 hệ thống sông chính.
  • Phân chia chi tiết địa bàn nghiên cứu thành 13 tiểu lưu vực bằng công nghệ GIS - SWAT2000, tạo lập cơ sở dữ liệu không gian chuẩn xác cho công tác quản lý tài nguyên nước.
  • Mô phỏng và kiểm định thành công chuỗi dòng chảy 30 năm (1981 - 2010) bằng mô hình TANK và WEAP, đạt độ tin cậy khoa học cao với chỉ số Nash tối ưu.
  • Lượng hóa chính xác lượng nước thiếu hụt của các ngành kinh tế cho các mốc 2012, 2020 và 2030, chứng minh tính ưu việt của phương án phân bổ điều tiết liên hồ chứa.
  • Đề xuất đồng bộ 4 nhóm giải pháp chiến lược bao gồm hoàn thiện thể chế pháp lý, tối ưu hóa quy trình vận hành hồ chứa Đăk Đrinh 1 - Thạch Nham, áp dụng công cụ kinh tế nước và mở rộng mạng lưới quan trắc tự động.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã chuyển hóa bài toán quản lý tài nguyên nước mặt từ phương thức phân tán sang mô hình phân bổ động tối ưu theo lưu vực sông dựa trên mô hình toán hiện đại. Trong giai đoạn tiếp theo đến năm 2025, các cơ quan ban ngành cần khẩn trương số hóa quy trình vận hành liên hồ và ban hành quy chế chia sẻ nguồn nước thực tế. Các nhà quản trị, kỹ sư thủy lợi và doanh nghiệp hãy khai thác ngay khung giải pháp khoa học này để bảo đảm an ninh nguồn nước và phát triển kinh tế xã hội bền vững cho tỉnh Quảng Ngãi.