ĐẶT VẤN ĐỀ Trong thế giới tự nhiên các loài động thực vật và vi sinh vật sống chung với nhau trong một thế giới cân bằng động, gắn kết với nhau trong sự tồn tại chung. Những tác động tích cực hay tiêu cực vào một thành phần hay yếu tố nào đó sẽ gây ảnh hƣởng tới cả hệ sinh thái, thậm chí cân bằng sinh thái bị phá vỡ. Côn trùng chiếm một vị trí quan trọng số một trong đa dạng sinh học và cân bằng của mỗi hệ sinh thái. Côn trùng là lớp động vật có nhiều loài nhất, số cá thể từng loài rất phong phú, phân bố rộng.
Côn trùng là một mắt xích quan trọng trong dòng năng lƣợng và chu trình tuần hoàn vật chất. Côn trùng có ảnh hƣởng tới cuộc sống và lợi ích của con ngƣời ở nhiều khía cạnh khác nhau. Trong khi một số loài côn trùng đƣợc coi nhƣ là vật gây hại ảnh hƣởng đến sinh kế và sức khỏe ngƣời dân thì số khác lại mang lại những lợi ích to lớn cho con ngƣời. Nhiều loài côn trùng là ngƣời bạn thân thiết của chúng ta trong việc nâng cao năng suất cây trồng và tạo ra những dòng tiến hoá mới thông qua việc thụ phấn cho các loài thực vật; một số lại cung cấp những nguồn thực phẩm giá trị nhƣ mật ong và sữa ong chúa.
Còn khá nhiều loài côn trùng con ngƣời chƣa biết hết giá trị của chúng. Tuy nhiên, các nhà khoa học đều khẳng định rằng côn trùng là thành phần chủ yếu của tự nhiên và là nhân tố chủ đạo tạo ra sự tuần hoàn vật chất trong hệ sinh thái. Hệ sinh thái rừng tự nhiên đa số có tính ổn định cao do quá trình cân bằng sinh thái thƣờng đƣợc thiết lập.Tuy nhiên đôi khi rừng tự nhiên thuần loài có thể bị xáo trộn nên cần có sự can thiệp của con ngƣời. Đối với rừng trồng tính bền vững và ổn định kém, dễ bị tổn thƣơng.
Chính vì vậy việc quản lý côn trùng rất quan trọng, quản lý tốt sẽ góp phần bảo vệ tài nguyên rừng hiệu quả. c 2 Ban quản lý rừng phòng hộ Thanh Kỳ- Nhƣ Thanh, Thanh Hóa đƣợc thành lập từ năm 1964, đến nay trải qua hơn 50 năm hoạt động. Cho đến nay trong khu vực rừng trồng thuộc sự quản lý của Ban quản lý ngoài thông tin về sự có mặt của loài côn trùng, chƣa có nghiên cứu cơ bản nào về vấn đề quản lý chúng. Để góp phần nhỏ bé của mình vào công tác quản lý bảo vệ rừng của địa phƣơng, cơ quan đơn vị công tác nhằm quản lý có hiệu quả các loài côn trùng nên tôi chọn đề tài “Nghiên cứu đề xuất giải pháp quản lý các loài côn trùng trong rừng trồng tại tiểu khu 647 Ban quản lý rừng phòng hộ Thanh Kỳ”.
c 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu tổng quan về côn trùng, quản lý côn trùng trên thế giới Trên thế giới những nghiên cứu về sâu bệnh hại nói chung, sâu bệnh hại cây lâm nghiệp nói riêng rất phong phú. Đó là các nghiên cứu cơ bản về sinh học, sinh thái học của các loài sâu, bệnh hại và các biện pháp phòng trừ trong đó có những nghiên cứu về côn trùng có ích, nấm có ích, biện pháp sử dụng côn trùng và vi sinhvật có ích theo hƣớng quản lý sâu bệnh hại tổng hợp. Về việc quản lý sâu bệnh hại, từ những năm 70 của thế kỷ 20 đến nay có nhiều nghiên cứu, kết quả nghiên cứu của các công trình trong lĩnh vực này có thể tóm lƣợc nhƣ sau: Năm 1989, Coulson, Sauders, Loh, Oliveria, Barry Drummond và Swain [10] đã có những chuyên đề và chƣơng trình nghiên cứu về quản lý côn trùng hại rừng.
Thông qua các chƣơng trình, từng bƣớc hoàn thiện IPM. Các chƣơng trình đã gắn sự hiểu biết về môi trƣờng với sự trợ giúp của kỹ thuật vi tính để (Integrated Pest Management – IPM) giải quyết những vấn đề tồn tại và đƣa ra quyết định thực hiện phù hợp với việc quản lý sâu hại lâm nghiệp và có thể cho cả nông nghiệp. Năm 1991, Goyer [16] trong “Phòng trừ sâu bệnh hại tổng hợp loài sâu ăn lá thuộc miền Nam nƣớc Mỹ” cho rằng: Điều tra thƣờng xuyên thực trạng sâu ăn lá rừng là rất quan trọng cho chiến lƣợc sử dụng IPM. Ông chỉ ra việc sử dụng Pheromone để bẫy bắt để từ đó tính ra mật độ loài là rất quan trọng, ông cũng đã phê phán việc sử dụng thuốc hoá học truyền thống gây ảnh hƣởng lớn đến kinh tế và môi trƣờng, đồng thời làm giảm đa dạng sinh học của hệ động vật rừng.
- Hiện nay IPM ở các nƣớc khác nhau là khác nhau với từng vật gây hại cụ thể. - Sự đóng góp của IPM có ý nghĩa cả về lý luận lẫn thực tế. c 4 - Các vấn đề kinh tế, xã hội (bao gồm cả chiến lƣợc của các chính phủ) là rất quan trọng đối với IPM. Năm 1994, Evans, Fielding [15] trong chƣơng trình phòng chống loài Dendrotonus micans hại vỏ cây Vân sam ở Anh đã nêu lên cơ sở của việc phòng chống loài sâu này đó là sự phối hợp các biện pháp quản lý rừng nhƣ chặt vệ sinh rừng, vận chuyển nhanh sản phẩm khai thác và phƣơng pháp sinh học nhƣ sử dụng hổ trùng ăn thịt Rhizophogus nhập nội, chăm sóc và thả vào rừng.
Hiện nay số lƣợng loài sâu này đã giảm đi rõ rệt chứng tỏ tác dụng tích cực của loài Rhizophogus grandis là rất tốt, việc nhân rộng loài này là nhân tố quan trọng để điều chỉnh mật độ loài Dendrotonus micans. Kết quả các nghiên cứu trên đã góp phần làm giàu kho tàng kiến thức quản lý côn trùng. Tuy nhiên, ở mỗi loài sâu hại, mỗi loài cây và mỗi quốc gia khi vận dụng cần phải sáng tạo và đặt yêu cầu thực tiễn cụ thể của từng khu vực lên hàng đầu. Nghiên cứu về quản lý côn trùng ở Việt Nam Nghiên cứu về côn trùng ở nƣớc ta nhìn chung không nhiều, đặc biệt là côn trùng lâm nghiệp.
Một số nghiên cứu chủ yếu tập trung vào nhóm côn trùng có hại, phổ biến là nghiên cứu các đặc tính sinh vật học, sinh thái học, tù đó đề ra các biện pháp phòng trừ mang tính chất chỉ đạo chung. Thực tế ở nƣớc ta chƣa có tài liệu đầy đủ về côn trùng để phục vụ cho khâu nghiên cứu, tra cứu ứng dụng trong công tác quản lý, sử dụng. Sau trận dịch Sâu róm thông ở Đò Cấm - Nghệ An 1960 - 1961 có một số bài viết đề cập về Sâu róm thông của Nguyễn Hồng Đản, Trần Kiểm (1962), Phạm Ngọc Anh (1963), Nguyễn Hữu Liêm (1968) (Dẫn theo Lê thị Diên [1]). Các nghiên cứu này tập trung mô tả hình thái của Sâu róm thông và đề xuất sử dụng một số loại thuốc hoá học trong phòng trừ loài sâu hại này.
c 5 Gần đây, do yêu cầu của thực tiễn sản xuất và sinh thái môi trƣờng, nghiên cứu côn trùng đã đƣợc chú ý hơn. Hệ thống các khu bảo tồn đã đƣợc nghiên cứu cơ bản về tài nguyên côn trùng. Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên đều là tài liệu phân loại côn trùng của một vài khu bảo tồn, Vƣờn quốc gia. Hầu nhƣ chƣa có nghiên cứu nào về các giải pháp quản lý và sử dụng tài nguyên côn trùng cho từng khu vực cụ thể và cho hệ thống các khu bảo tồn, các Vƣờn Quốc gia trong cả nƣớc.
Đây là một vấn đề lớn đặt ra cho khâu quản lý và sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên quốc gia của Chính phủ trong đó có nguồn tài nguyên côn trùng nói chung và tài nguyên côn trùng rừng nói riêng. Trần Công Loanh (1989) [4] trong cuốn “Côn trùng lâm nghiệp” đã viết rất kỹ về đặc điểm hình thái, đặc tính sinh vật học, sinh thái học và phân loài côn trùng lâm nghiệp, đồng thời nêu ra một số phƣơng pháp dự tính, dự báo sâu hại và các biện pháp phòng trừ chúng bằng thuốc hoá học. Tuy vậy chƣa đề cập đến nguyên lý phòng trừ tổng hợp. Gần đây, Nguyễn Thế Nhã - Trần Công Loanh - Trần Văn Mão (2001) [5] đã xuất bản giáo trình “Điều tra dự tính, dự báo sâu bệnh trong lâm nghiệp”.
Các tác giả nhấn mạnh điều tra và dự tính, dự báo sâu bệnh hại rừng là công việc có liên quan chặt chẽ với nhau.Điều tra là cơ sở của dự tính, dự báo, điều tra sâu bệnh hại tiến hành càng kịp thời, chính xác thì kết quả dự báo càng đảm bảo độ tin cậy. Dự tính, dự báo là cơ sở của việc phòng trừ sâu bệnh hại và quản lý hữu hiệu nguồn tại nguyên côn trùng và vi sinh vật có ích. Năm 2002, Nguyễn Thế Nhã - Trần Công Loanh [6] đã xuất bản cuốn “Sử dụng côn trùng và vi sinh vật có ích - tập I”. Đây là tài liệu đƣợc nghiên cứu và biên soạn công phu giúp cho những ngƣời làm công tác quản lý tài nguyên rừng có cơ sở khoa học để đƣa ra các giải pháp thích hợp trong việc phòng trừ sâu bệnh hại rừng theo nguyên lý của quản lý sâu bệnh hại tổng hợp IPM, lợi dụng đƣợc sự c 6 khống chế tự nhiên của các loài côn trùng là thiên địch của sâu hại rừng, giữ gìn sự cân bằng sinh thái tự nhiên và an toàn cho môi trƣờng.
Năm 2002, Nguyễn Thế Nhã và cộng sự ở Trƣờng Đại học Lâm nghiệp đã xây dựng mô hình định lƣợng nguồn dinh dƣỡng của sâu bệnh hại để xác định ngƣỡng kinh tế trong dự tính, dự báo sâu bệnh hại rừng Keo tai tƣợng [7]. Đây là một vấn đề đang làm các nhà quản lý, sản xuất kinh doanh Lâm nghiệp rất quan tâm. Nếu đƣợc phát triển thì đề tài sẽ mang lại hiệu ích to lớn trong quản lý tài nguyên rừng, trong sản xuất kinh doanh lâm nghiệp của nƣớc ta. Theo Trần Văn Mão (2002) [9] trong quản lý côn trùng quản lý dịch hại tổng hợp có ý nghĩa rất lớn trong đó ngƣời ta nhấn mạnh vai trò của phân tích hệ thống.
Từ những nguyên lý sinh thái và động thái quần thể côn trùng rừng, chúng ta có thể tìm hiểu sự phát sinh quần thể sâu hại, các loại dịch sâu hại rừng, các loại ảnh hƣởng của côn trùng đến sinh thái, kinh tế và xã hội và cuối cùng đƣa ra quyết sách quản lý thích hợp.