MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Rừng ngập mặn (RNM) là hệ sinh thái đặc trƣng của bờ biển nhiệt đới. N ằm trong mối tƣơng tác giữa đất liền và biển, RNM là một nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá đối với sự sống. RNM là một trong bể chứa cacbon giàu ở vùng nhiệt đới.
RNM lƣu trữ cacbon trong sinh khối của cây ngập mặn và trong trầm tích, bình quân 1.023 triệu tấn cacbon trên mỗi hecta, chiếm tỷ lệ phần trăm cao trong tổng số lƣợng cacbon lƣu giữ trong hệ sinh thái ven biển(RNM, cỏ biển, san hô, đầm lầy, than bùn…). Những nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc phá 1% RNM sẽ phát thải 0,02-0,12 tỷ tấn cacbon mỗi năm, chiếm khoảng 10% lƣợng phát thải do phá rừng toàn cầu dù diện tích RNM chỉ chiếm 0,7% tổng diện tích rừng nhiệt đới. RNM cùng với hệ sinh thái có biển và san hô tạo ra mối liên kết tam giác cho nhiều tiến trình sinh thái, sinh học, hóa học và lý học. Ở Việt Nam, theo kế hoạch hành động Bảo vệ và Phát triển rừng ngập mặn cho thấy các giá trị môi trƣờng của RNM nhƣ chắn sóng, chắn gió, bảo vệ đới bờ biển chống xói mòn, cải tạo đất, cải tạo chất lƣợng nƣớc, lƣu trữ các chất ô nhiễm không đổ ra biển, cung cấp chất dinh dƣỡng cho duy trì các hệ sinh thái động thực vật, v.v… Ngoài ra RNM còn có ý nghĩa sống còn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội vùng ven biể.
Bên cạnh đó, hệ sinh thái RNM còn cung cấp các nguồn gen vô cùng quý giá nhằm duy trì tính đa dạng sinh học của hệ động thực vật. Huyện Tiên Yên có vị trí địa lý tự nhiên và kinh tế xã hội quan trọng trong tỉnh Quảng Ninh và khu vực Bắc Việt Nam. Tài nguyên thiên nhiên và kinh tế xã hội nơi đây chứa đựng tiềm năng to lớn thúc đẩy cán cân phát triển kinh tế không những cho tỉnh mà còn ảnh hƣởng đến phát triển kinh tế của cả khu vực. Đặc biệt hệ sinh thái RNM chiếm lĩnh toàn bộ đƣờng bờ và dải ngập nƣớc ven biển không chỉ quyết định tới môi trƣờng sống , chỉ thị các yếu tố đặc trƣng của hệ sinh thái, mà còn là nguồn tài nguyên kinh tế đa lợi nhuận.
Nguồn 1 c lợi này đã đƣuọc nhân dân vùng biển sử dụng rộng rãi, đa dạng với các trình độ canh tấc khác nhau từ nhiều thế kỷ. RNM Tiên Yên chủ yếu là rừng tự nhiên ít bị tấc động nên đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự duy trì và phát triển đa dạng sinh học. Hệ thực vật ngập mặn phát triển và có giá trị đa dạng sinh học cao, các khu vực này trở thành bãi đẻ của nhiều loài sinh vật có giá trị kinh tế và sinh thái, đồng thời cũng là nơi tập trung nhiều loài hải snả nhƣ tôm, cua, cá, ngao, ngán, sá sùng, bông thùa… Xuất phát từ cơ sở trên tác giả đã lựa chọn đề tài “Nghiên cứu đánh giá tính đa dạng sinh học rừng ngập mặn và đề xuất biện pháp bảo vệ tại huyện Tiên Yên tỉnh Quảng Ninh”. Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá tính đa dạng sinh học nhằm đề xuất biện pháp bảo vệ hệ sinh thái RNM Tiên Yên.
Nhiệm vụ nghiên cứu - Đặc điểm về RNM trên địa bàn huyện Tiên Yên. - Đề xuất các giải pháp bảo vệ RNM tại Tiên Yên. Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần hoàn thiện phƣơng pháp luận nghiên cứu thực trạng và các nguyên nhân ảnh hƣởng tới đa dạng sinh học tại rừng ngập mặn. Những đóng góp, ý nghĩa của đề tài - Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học xây dựng các đề án bảo vệ RNM cũng nhƣ nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ RNM trên địa bàn cấp huyện.
- Là tài liệu tham khảo phục vụ công tác nghiên cứu và giảng dạy trong lĩnh vực RNM và quản lý tài nguyên môi trƣờng. 2 c CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 1. Cơ sở pháp lý - Luật Đa dạng sinh học ngày 13 tháng 11 năm 2008; - Luật Bảo vệ và phát triển rừng số 29/2004/QH11 ngày 03/12/2003; - Luật Bảo vệ môi trƣờng ngày 23 tháng 6 năm 2014 - Quyết định số 45/QĐ-TTg của Thủ tƣớng Chính phủ ngày 08/01/2014 về Phê duyệt Quy hoạch tổng thể bảo tồn đa dạng sinh học của cả nƣớc đến năm 2020, định hƣớng đến năm 2030, trong danh mục các khu bảo tồn quy hoạch đến năm 2020 và năm 2030 có vùng đất ngập nƣớc cửa sông Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh đƣợc quy hoạch là Khu dữ trữ thiên nhiên với diện tích 21. - Quyết định số 1418/QĐ-UBND ngày 04/7/2014 của UBND tỉnh Quảng Ninh về Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.
- Quy hoạch bảo vệ môi trƣờng huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Cơ sở lý luận Một số khái niệm và thuật ngữ liên quan Rừng ngập mặn: Rừng ngập mặn là quần xã đƣợc hợp thành từ thực vật ngập mặn ảnh hƣởng bởi nƣớc triều ven biển nhiệt đới hoặc bán nhiệt đới. Rừng nhiệt đới phân bổ từ vĩ độ 25 Bắc xuống vĩ độ 25 Nam. Nằm trong mối tƣơng tác giữ đất liền và biển, rừng ngập mặn là sinh cảnh quan trọng và quý giá về khả năng thích nghi.
(Bách khoa toàn thƣ mở) Đa dạng sinh học: là sự nhiều dạng của các loài và của các biến dị di truyền của mọi sinh vật, cũng nhƣ sự nhiều dạng của các cấp độ tổ chức sinh giới nhất là các dạng hệ sinh thái ở mọi môi trƣờng trên Trái đất. Thuật ngữ "đa dang sinh học" dịch từ tiếng Anh: biodiversity là khái niệm bao trùm mọi mức 3 c độ biến đổi của thế giới tự nhiên mà sinh vật là đơn vị cấu thành.2 Những nghiên cứu về đa dạng sinh học trên thế giới và ở Việt Nam 1.1 Trên thế giới Cho đến nay, trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực đa dạng sinh học. Trong cuốn “Thƣ mục nghiên cứu về RNM” đã liệt kê hơn 420 công trình nghiên cứu của 12 quốc gia trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dƣơng từ năm 1600 đến năm 1975. Trong đó, phần lớn các nghiên cứu này đều đề cập đến khu hệ động thực vật phân bố trong hệ sinh thái RNM.
Nhiều công trình nghiên cứu công bố kết quả nghiên cứu liên quan đến hệ sinh thái RNM đã đƣợc tổng hợp, thống kê và đăng tải trong 17 tuyển tập các báo cáo tại Hội thảo của các dự án thuộc khu vực Châu Á – Thái Bình Dƣơng. Trong đó có một số công trình công bố liên quan đến các lĩnh vực: Mối liên quan giữa hệ sinh thái và RNM, các quần xã động vật đáy, quần xã vùng triều và đề xuất phƣơng hƣớng quản lý RNM ở các quốc gia. Trong những năm gần đây hàng loạt các tổ chức, hiệp hội bảo tồn, các hội nghị quốc tế đã đƣợc thành lập. Nổi bật và đáng chú ý nhất là Hội nghị thƣợng đỉnh bàn vè vấn đề môi trƣờng và đa dạng sinh vật đã đƣợc tổ chức tại Rio de Janeiro (Brazil) tháng 6/1992, 150 nƣớc đã ký vào Công ƣớc về đa dạng sinh vật.
Để phục vụ mục đích bảo tồn, WWF (1990) đã cho xuất bản cuốn sách Tầm quan trọng của đa dạng sinh vật (the Importance of biological diversity); IUCN, UNEP, WWF đƣa ra Chiến lược bảo tồn toàn cầu (World conservation strategy, 4 c 1990), Hãy quan tâm tới trái đất (Caring for the eảth, 191); WCMC đã Đánh giá đa dạng sinh vật toàn cầu (Global biodiversity assessment, 1995). Bên cạnh đó, hàng ngàn những công trình khoa học và các báo cáo khác lần lƣợt đƣợc xuất bản và rất nhiều cuộc hội thảo khác nhau đã đƣợc tổ chức nhằm thảo luận về quan điểm, về phƣơng pháp luận cũng nhƣ thông báo các kết quả đã đạt đƣợc trong nghiên cứu về đa dạng sinh vật và bảo tồn trên toàn thế giới. Các kết quả nghiên cứu đƣợc công bố trong các báo cáo và hội nghị hội thảo đã cơ bản thiết lập nên một hệ thống thông tin đa dạng sinh vật trên toàn thế giới đã và đang góp phần nâng cao nhận thức đa dạng sinh vật và bảo tồn, khôi phục lại một số hệ sinh thái, hệ thực vật trên các vùng lãnh thổ cấp quốc gia.2 Tổng quan rừng ngập mặn Việt Nam Theo Phan Nguyên Hồng có nhiều tài liệu liên quan đến thảm thực vật ngập mặn, điển hình nhƣ một số công trình: RNM mũi Cà Mau (C.Moquillon, 1950), Thảm thực vật bờ biển bùn cát ở bán đảo Cam Ranh (J. Công trình nghiên cứu có hệ thống về RNM đầu tiên ở Việt Nam là của Vũ Văn Cƣơng (1964) (ghi theo Phan Nguyên Hồng) về các quần xã thực vật ở rừng Sát thuộc vùng Sài Gòn - Vũng Tàu.
Tác giả đã chia thực vật ở đây thành 2 nhóm: nhóm thực vật nƣớc mặn và nhóm thực vật nƣớc lợ. Lê Công Khanh (1986) (ghi theo Phan Nguyên Hồng) mô tả các đặc điểm sinh học để phân biệt các chi, các họ cây có trong RNM. Tác giả đã xếp 57 loài cây ngập mặn vào 4 nhóm dựa vào tính chất ngập nƣớc và độ mặn của nƣớc: Nhóm mọc trên đất bồi ngập nƣớc mặn (độ mặn của nƣớc từ 15-32‰) có 25 loài, trong đó có Đƣng, Cóc trắng; nhóm sống trên đất bồi thƣờng ngập nƣớc lợ (độ mặn 0,5 - 15‰) có 9 loài, trong đó có Vẹt đen và nhóm sống trên đất bồi ít ngập nƣớc lợ có 12 loài. Nguyễn Hoàng Trí (1999), cho rằng Đƣng không có ở miền Bắc Việt Nam, chỉ có ở ven biển miền Trung và Nam Bộ.
Cóc trắng gặp cả ở ba miền, trên vùng đất cao ngập triều không thƣờng xuyên, nền đất tƣơng đối chặt. Vẹt 5 c đen không có ở miền Bắc, gặp ở vùng nƣớc lợ ở miền Nam. Trang phân bố từ Bắc vào Nam, chịu đƣợc biên độ nhiệt khá khắc nghiệt, hiện đƣợc trồng nhiều ở miền Bắc. Đỗ Hữu Thƣ, Đào Mạnh Sơn, Vũ Trung Tạng., đã nghiên cứu tổng quan RNM ở Việt Nam, xây dựng nên bản đồ phân bố RNM Việt Nam và định hƣớng quy hoạch cho một số vùng ở Việt Nam.
Phan Nguyên Hồng (1999) đã đề cập đến vấn đề phân bố, sinh thái, sinh lý sinh khối. RNM Việt Nam. Số loài cây ngập mặn ở miền Bắc Việt Nam ít hơn và có kích thƣớc cây bé hơn ở miền Nam vì có nhiệt độ thấp trong mùa đông. Vùng ít mƣa, số lƣợng loài và kích thƣớc cây giảm.