Chương 1: Tổng quan về khu vực nghiên cứu. Chương 2: Hiện trạng rừng ngập mặn tại khu vực Bàng La – Đại Hợp. Chương 3: Mô phỏng chế độ thủy động lực và diễn biến hình thái khu vực bãi biển Bàng La - Đại Hợp. Chương 4: Đề xuất các biện pháp nhằm quản lý và phát triển diện tích rừng ngập mặn khu vực Bàng La – Đại Hợp.
TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1.1 Vị trí địa lý và đặc điểm địa hình 1.1 Vị trí địa lý Đồ Sơn là một quận của thành phố Hải Phòng, cách trung tâm thành phố 20 km về hướng Đông nam, quận Đồ Sơn được thành lập ngày 12 tháng 9 năm 2007 trên cơ sở toàn bộ diện tích của thị xã Đồ Sơn cũ và tách 2 xã thuộc huyện Kiến Thụy. Đồ Sơn là một bán đảo nhỏ, do dãy núi Rồng vươn dài ra biển tới 5 km, với hàng chục mỏm đồi cao từ 25 m đến 130 m. Về phía tây và tây bắc, quận Đồ Sơn tiếp giáp với huyện Kiến Thụy, các hướng còn lại tiếp giáp với biển Đông, ở phía bắc và phía nam của quận là hai cửa sông Lạch Tray và Văn Úc, thuộc hệ thống sông Thái Bình đổ ra biển. Xã Đại Hợp thuộc huyện Kiến Thụy, phía bắc giáp quận Dương Kinh và quận Kiến An, phía đông và đông nam giáp quận Đồ Sơn và vịnh Bắc bộ, phía nam và tây nam giáp huyện Tiên Lãng, phía tây giáp huyện An Lão.
Bản đồ khu vực Đồ Sơn - Kiến Thụy [17] 6 Khu vực nghiên cứu là khu vực bờ biển, nơi có dải rừng ngập mặn bao phủ phía ngoài, nằm từ bán đảo Đồ Sơn tới cửa sông Văn Úc (Bàng La – Đại Hợp), có tọa độ: từ 20036’00” tới 20053’12’’ vĩ độ bắc và từ 106036’12” tới 106057’03” kinh độ đông (Hình 1-2). Vị trí khu vực nghiên cứu Bàng La - Đại Hợp [5] 1.2 Đặc điểm địa hình Địa hình tại khu vực Bàng La – Đại Hợp gồm có các bãi bồi từ 0m hải đồ vào bờ có hình tam giác, với đỉnh là cửa Văn Úc và đáy là bờ đê quốc gia từ Tiên Lãng đến Đồ Sơn. Về phía biển địa hình nổi cao, với nhiều cồn cát và đê cát biển thể hiện rất rõ hình thái của cửa sông châu thổ, hình thái các bãi bồi cho thấy, đây là khu vực cửa sông châu thổ khá điển hình và đang được bồi tụ mạnh. Địa hình đáy biển tương đối bằng phẳng, nghiêng thoai thoải với độ dốc chung của bề mặt từ 0,10 đến 0,20, với các đồi núi sót tạo thành hệ thống đảo ven bờ.
Quá trình sụt chìm dạng bậc thang của móng granit đã tạo ra một loạt các bồn trũng tích tụ trầm tích Kainozoi với bề dày từ 8 – 15 km như 7 trũng Sông Hồng, xen lẫn với các bồn trũng là các khối nhô thể hiện sự tương phản rõ nét trên địa hình đáy biển. Bề mặt lục địa ngập nước có độ sâu nằm trong giới hạn từ 0 m đến 200 m, ở phía ngoài độ sâu này có sự biến đổi mang tính đột biến về độ dốc của địa hình, có cấu trúc vỏ granit đồng nhất, do đó vỏ thuộc kiểu vỏ lục địa. Địa hình tích tụ các vật liệu thô như cát, sạn, sỏi, phân bố ở các mức độ sâu 20 – 25 m, 30 m, 50 – 60 m, 100 – 110 m, trên thềm lục địa là tàn dư của các bờ biển cổ được hình thành trong thời kỳ từ Pleistocen đến Holocen. Địa mạo khu vực là tập hợp sét, bột, cát của đồng bằng gian triều, cát bột, bột cát lạch triều và nhánh triều cùng với sét bột đầm lầy trên triều.
Địa mạo phát triển theo cơ chế kéo dài lòng dẫn của các sông Văn Úc, Thái Bình. Trầm tích Kainozoi, đặc biệt là trầm tích Neogen chỉ có dọc theo các đứt gãy, thành tạo kiểu sông, hồ lục địa. Các quá trình động lực hiện đại như: sóng, thuỷ triều, dòng chảy, di chuyển bồi tích. là những quá trình địa mạo hiện đại đặc trưng cho thềm lục địa khu vực Quảng Ninh - Hải Phòng [3].
Đới sườn bờ ngầm có các đường đẳng sâu, phân bố rất đồng đều, gần như song song với nhau và thoải dần ra phía biển. Các đường đẳng sâu có dạng cánh cung, lồi tại cửa sông Văn Úc, uốn cong về hai phía Đồ Sơn và Diêm Điền. Bản đồ các khu vực bồi tụ tại cửa sông Văn Úc [14] Trên bản đồ địa hình có các bề mặt địa hình, các bãi bồi khá bằng phẳng, tạo thành bãi bồi bằng phẳng áp sát bờ và nhiều cồn cát được chia cách bởi các bề mặt địa hình thấp hơn tại phía biển. Đây là các bãi cát, cồn cát và các đê cát nổi cao phía ngoài cùng của các bãi triều thấp có động lực của sóng mạnh nhất và cũng là đới sóng vỡ.
Bề mặt địa hình đới sườn bờ ngầm khá dốc và nghiêng lớn ra phía biển, sâu tại chính cửa sông Văn Úc và giảm dần về hai phía Diêm Điền và Đồ Sơn. Với bề mặt địa hình khu vực như vậy, thể hiện một khu vực đang được bồi tụ mạnh và nhất là ven bờ Tiên Lãng phía cửa sông Văn Úc [14].2 Đặc điểm khí hậu, khí tượng Khu vực Bàng La - Đại Hợp có khí hậu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, trong năm có 2 mùa rõ rệt: mùa hè nóng ẩm, mùa đông lạnh khô. Mùa đông bị ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, chính chế độ gió này quyết định đến chế độ thủy, động lực ở vùng bờ biển. 9 Mùa hè có nắng nóng, nhiệt độ cao, hơi nước biển chứa muối, chịu ảnh hưởng chính là gió các hướng Đông Nam, Nam.
Thời tiết mang tính chất đặc trưng của thời tiết miền Bắc Việt Nam: nóng ẩm, mưa nhiều, có 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông tương đối rõ rệt, trong đó: từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau là khí hậu của một mùa đông lạnh và khô; từ tháng 5 đến tháng 10 là khí hậu của mùa hè, nồm mát và mưa nhiều.1 Nhiệt độ Nhiệt độ trung bình năm đo được tại trạm khí tượng thủy văn Hòn Dáu khoảng 25 - 260C, mùa khô nóng kéo dài từ tháng 3 đến tháng 10, nhiệt độ trung bình trên 250 C, mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau, nhiệt độ trung bình trên dưới 200 C. Biến đổi nhiệt độ trung bình các tháng trong năm của khu vực được thể hiện như trong hình 1- 4. nhiệt độ (oC) 30 28 26 24 năm 2009 22 năm 2010 năm 2011 20 năm 2012 18 16 14 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Tháng Hình 1-4. Nhiệt độ trung bình các tháng trong năm tại Hòn Dáu Dựa trên biểu đồ nhiệt độ trung bình năm của các năm 2009 - 2012, tại trạm Hòn Dáu ba tháng nóng nhất là 7, 8, 9 nhiệt độ cực đại đạt vào tháng 7, trị số trên 350C, có lúc lên đến 390C.
Mùa lạnh bắt đầu từ cuối tháng 6 tới đầu tháng 3, nhiệt độ trung bình từ 180C - 200C, có 4 tháng lạnh nhất là 11, 12, 1, 2 nhiệt độ xuống dưới 150C có lúc xuống dưới 100C [5].2 Chế độ mưa Tại khu vực Bàng La – Đại Hợp mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 tới tháng 10, theo số liệu tại trạm Hòn Dáu (từ 1943-2013), tổng lượng mưa trung bình trong mùa mưa là 1.254,1 mm chiếm 85,9% lượng mưa trong năm. Tháng có 11 lượng mưa trung bình cao nhất là tháng 8 (282 mm) chiếm 19,3% cả năm, tháng có lượng mưa trung bình thấp nhất là tháng 12 (15,4 mm). 300 250 200 150 100 50 0 Tháng 1 Tháng 3 Tháng 5 Tháng 7 Tháng 9 Tháng 11 Tổng lượng mưa Hình 1-5. Tổng lượng mưa trung bình các tháng trong nhiều năm (1994- 2013) tại Hòn Dáu Số ngày mưa trung bình nhiều năm là 150 ngày, năm có số ngày mưa nhiều nhất là 2002 (203 ngày) và năm có số ngày mưa ít nhất là 2007 (125 ngày).
Mùa mưa cường độ mưa lớn và thời gian mưa kéo dài, đặc biệt là vào thời kỳ khu vực chịu ảnh hưởng của mưa bão áp thấp nhiệt đới. Ngược lại, trong mùa khô chủ yếu là mưa phùn thời gian mưa ngắn nên lượng mưa không đáng kể, lượng mưa ngày lớn nhất theo số liệu quan trắc tại trạm Hòn Dáu là 434,7 mm (ngày 26/6/1996) [6]. Độ ẩm lượng bốc hơi: Giá trị trung bình các tháng trong năm được thể hiện trên hình 1-6: 12 Độ ẩm kk (%) 89 87 85 năm 2009 83 năm 2010 81 năm 2011 79 năm 2012 77 75 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Tháng Hình 1-6. Độ ẩm tương đối của không khí đo tại Hòn Dáu Do ở gần biển nên độ ẩm tương đối tại khu vực Bàng La – Đại Hợp khá cao, bình quân là từ 85 đến 90%, cao nhất vào tháng 2, 3, 4; thấp nhất là tháng 11, 12 và tháng 1 năm sau.
Gió Khu vực Bàng La – Đại Hợp nằm trong vùng khí hậu miền Bắc, do đó chế độ gió tại đây mang tính chất theo mùa rõ nét. Về mùa đông, chịu ảnh hưởng của hệ thống gió mùa Đông Bắc với các hướng thịnh hành là Đông và Đông bắc, trong mùa hè chịu ảnh hưởng của hệ thống gió mùa Tây Nam, nhưng khi vào gần bờ bị biến tính có các hướng thịnh hành là Nam và Đông Nam. Hình 1-7 thể hiện sự phân bố gió theo các hướng trong nhiều năm tại trạm khí tượng thủy văn Hòn Dáu. 13 N NNW 12 NNE 10 NW NE 8 6 0,5 - 2,1 WNW ENE 4 2,1 - 3,6 2 3,6 - 5,7 W 0 E 5,7 - 8,8 8,8 - 11,1 WSW ESE >11,1 SW SE SSW SSE S Hình 1-7.
Hoa gió trung bình nhiều năm (từ 1990-2012) tại Hòn Dáu [7] Trên hoa gió tổng hợp nhiều năm tại trạm Hòn Dáu cho thấy, trong năm gió thịnh hành là các hướng gió Bắc, Bắc Đông bắc, Đông, Đông Nam và Nam, trong đó gió hướng Đông có tần suất chiếm 31,32% tiếp theo là hướng Bắc có tần suất là 15,36%; hướng Đông Nam có tần suất là 14,55%; hướng Nam có tần suất là 12,13% và Đông Bắc có tần suất là 10,3%. Sự phân bố tần suất các hướng gió theo các khoảng vận tốc khác nhau được thể hiện trong bảng 1-1. Tần suất gió trung bình nhiều năm (1990-2012) tại Hòn Dáu Hướng gió Khoảng vận tốc (m/s) Tổng K.