MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam là một trong những nƣớc có tiềm năng đa dạng sinh học cao trên thế giới [7]. Riêng về lớp lƣỡng cƣ (Amphibia), số lƣợng loài ghi nhận ở Việt Nam tăng nhanh trong các thập kỷ gần đây: từ 82 loài vào năm 1996 lên 162 loài vào năm 2005 và 176 loài vào năm 2009 [7]. Tuy nhiên các loài mới và ghi nhận mới cho Việt Nam vẫn liên tục đƣợc phát hiện trong những năm trở lại đây, với khoảng 245 loài lƣỡng cƣ (LC) hiện đã ghi nhận ở nƣớc ta [17].
Số lƣợng loài tăng lên nhanh chóng và những khám phá mới liên tục đƣợc công bố chứng tỏ khu hệ lƣỡng cƣ của Việt Nam rất đa dạng và cần tiếp tục đƣợc nghiên cứu kỹ lƣỡng hơn, đặc biệt là ở các nhóm loài sống trên núi cao hoặc các loài có đặc điểm hình thái giống nhau nhƣ Limnonectes, Megophrys, Leptobarachela, Odoraana. Vƣờn Quốc gia (VQG) Ba Vì đƣợc thành lập ngày 16/01/1991, theo Quyết định ban hành số 17/CT của Chủ tịch Hội đồng bộ trƣởng (nay là Chính phủ) phê duyệt luận chứng kinh tế thành lập khu rừng cấm Quốc gia Ba Vì. Đến ngày 18 tháng 12 năm 1991 Chủ tịch Hội đồng bộ trƣởng (Nay là Chính phủ) ban hành Quyết định số 407/CT về việc đổi tên rừng cấm Quốc gia Ba Vì thành VQG Ba Vì [26]. VQG Ba Vì hiện nay nằm trên địa bàn 5 huyện: Ba Vì, Thạch Thất, Quốc Oai thuộc thành phố Hà Nội; huyện Lƣơng Sơn, Kỳ Sơn của tỉnh Hòa Bình, cách thủ đô Hà Nội 60 km với tổng diện tích là 9.
Tuy đƣợc thành lập từ lâu nhƣng hiện nay chƣa có bất nghiên cứu hay công bố chính thức về khu hệ lƣỡng cƣ tại nơi đây. Vì vậy, việc tiến hành nghiên cứu sâu và toàn diện để có những dẫn liệu đầy đủ về khu hệ lƣỡng cƣ ở VQG Ba Vì và đề xuất đƣợc các giải pháp hữu hiệu trong việc bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên động vật nơi đây là hết sức cần thiết. Với những lý do trên, chúng 2 tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu đa dạng các loài lưỡng cư (Amphibia) ở Vườn Quốc gia Ba Vì, Hà Nội” nhằm đánh giá sự đa dạng của các loài lƣỡng cƣ ở VQG Ba Vì. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn: Ý nghĩa khoa học: Đã cập nhật thông tin về thành phần loài, đặc điểm phân bố các loài lƣỡng cƣ, đáng chú ý lần đầu tiên ghi nhận 12 loài lƣỡng cƣ tại VQG Ba Vì và vùng phân bố mới ở khu vực Hà Nội.
Ý nghĩa thực tiễn: - Đề tài đã cung cấp các thông tin làm cơ sở khoa học cho việc quy hoạch và quản lý bảo tồn đa dạng sinh học ở VQG Ba Vì thông qua: + Xác định các địa điểm cần ƣu tiên bảo tồn. + Xác định các đối tƣợng lƣỡng cƣ cần ƣu tiên bảo tồn. + Xác định các hoạt động cần ƣu tiên bảo tồn. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.
Lƣợc sử nghiên cứu về loài lƣỡng cƣ ở các nƣớc trong khu vực: Đến tháng 2/2019, có 7.788 loài LC trên thế giới đƣợc ghi nhận còn tồn tại [17]. Chúng đƣợc chia thành ba bộ: bộ Không đuôi Anura (6836 loài), bộ Có đuôi Caudata (715 loài) và bộ Không chân Gymnophiona (207 loài) [25]. Theo Frost (2019) Ở Việt Nam có khoảng 245 loài LC đƣợc ghi nhận. Lƣỡng cƣ là nhóm động vật có xƣơng sống biến nhiệt, vì vậy, những nghiên cứu về mức độ đa dạng của các loài lƣỡng cƣ thƣờng đƣợc tiến hành ở các vùng nhiệt đới nhƣ Châu Phi, Nam Mỹ và Châu Á.
Trên thế giới có rất nhiều công trình công bố có liên quan đến phân loại, sinh thái và quan hệ di truyền của các loài LC, tuy nhiên, ở phần này chúng tôi chỉ nêu sơ lƣợc tình hình nghiên cứu theo hƣớng của đề tài ở các nƣớc giáp ranh với Việt Nam: Ở Trung Quốc: Zhao & Adler (1993) ghi nhận có 274 loài lƣỡng cƣ; Yang & Rao (2008) công bố cuốn sách lƣỡng cƣ tỉnh Vân Nam trong đó mô tả 115 loài. Số lƣợng loài lƣỡng cƣ đã tăng lên đến 370 loài trong công bố của Fei và cs. Từ năm 2010 đến nay có một số loài mới đƣợc mô tả với mẫu vật thu ở hai tỉnh Quảng Tây và Vân Nam, Trung Quốc giáp ranh với Việt Nam nhƣ: Odorrana lipuensis Mo, Chen, Wu, Zhang & Zhou, O. fengkaiensis Wang, Lau, Yang, Chen, Liu, Pang & Liu, Limnonectes longchuanensis Suwnnapoom, Yuan, Chen, Hou, Zhao, Wang, Nguyen, Murphy, Sullivan, McLeod & Che, Rhacophorus pinglongensis Mo, Chen, Liao & Zhou, Amolops xinduquiao Fei, Ye, Wang & Jiang, Liuixalus feii Yang, Rao & Wang [17] Ở Lào: Số lƣợng loài lƣỡng cƣ tăng từ 58 loài trong công bố của Stuart (1999) lên khoảng 153 loài vào thời điểm hiện tại.
Trong đó có nhiều loài mới và ghi nhận mới đƣợc phát hiện trong thời gian gần đây nhƣ Rhacophorus spelaeus Orlov, Gnophanxay, Phimminith & Phomphoumy, 2010. Theloderma lacustrium Sivongxay, 4 Niane, Davankham, Phimmachak, Phoumixay & Stuart, 2016. cùng một số ghi nhận mới ở vùng biên giới giáp với Việt Nam nhƣ Gracixalus supercornutus, G. quyeti, Rhacophorus maximus [17] Ở Cam-pu-chia: Có một số nghiên cứu tập trung ở dãy núi Cardamom ở miền Nam Cam-pu-chia nhƣ: Ohler và cs.
(2002) ghi nhận 34 loài lƣỡng cƣ. Grismer và cs. (2008) ghi nhận 41 loài lƣỡng cƣ. Stuart và cs.
(2006) ghi nhận 30 loài lƣỡng cƣ ở khu vực miền núi thuộc Đông Cam-pu-chia, giáp ranh với biên giới Việt Nam. Hartmann và cs. (2013) ghi nhận 22 loài lƣỡng cƣ ở khu vực Tây Bắc Cam-pu-chia. Hiện nay, ở Cam-pu-chia ghi nhận khoảng 79 loài [17].
Ở Thái Lan: Công trình nghiên cứu tổng hợp nhất về khu hệ lƣỡng cƣ ở Thái Lan của Taylor (1962) đã ghi nhận 125 loài. Khonsue & Thirakhupta (2001) xác định có 130 loài ở Thái Lan. Hiện nay, ở Thái Lan ghi nhận khoảng 182 loài. Trong đó có nhiều loài mới đƣợc mô tả trong thời gian gần đây nhƣ loài Tylototriton pahai Nishikawa, Khonsue, Pomchote, Matsui, 2013 và T.
uyenoi Nishikawa, Khonsue, Pomchote & Matsui, 2013; Limnonectes lauhachindai Aowphol, Rujirawan, Taksintum, Chuaynkern & Stuart, 2015; Fejervarya chiangmaiensis Suwannapoom, Yuan, Poyarkov, Yan, Kamtaeja, Murphy & Che, 2016; hay loài Tylototriton anguliceps Le, Nguyen, Nishikawa, Nguyen, Pham, Matsui, Bernardes & Nguyen, 2015 đƣợc phát hiện và mô tả năm 2015 có phân bố ở Thái Lan và Việt Nam [17]. Số lƣợng loài lƣỡng cƣ trên thế giới rất đa dạng với nhiều khám phá mới trong thời gian gần đây, tuy nhiên có tới gần một phần ba số lƣợng các loài đang bị đe dọa ở cấp độ khác nhau trên quy mô toàn cầu [17]. Trong hai thập kỉ qua đã có tới gần 168 loài đƣợc cho là đã tuyệt chủng và ít nhất khoảng 2.500 loài có quần thể bị đe dọa suy giảm [17]. Riêng vùng Đông Dƣơng đã có khoảng 41 loài bị tuyệt chủng hoàn toàn (EX), bị tuyệt chủng ngoài tự nhiên (EW) hoặc cực kỳ nguy cấp (CR) và 266 loài nguy cấp (EN) 5 hoặc sẽ nguy cấp (VU).
Rowley và cs. (2010) đã chỉ rõ các loài lƣỡng cƣ ở khu vực Đông Nam Á đang đứng trƣớc nguy cơ bị đe dọa tuyệt chủng do tỉ lệ mất rừng ở khu vực này cao nhất trên hành tinh và các quần thể đang chịu áp lực khai thác cạn kiệt. Rowley và cs. (2016) đã đánh giá tác động của việc buôn bán các loài lƣỡng cƣ từ Châu Á (trong đó có Việt Nam) sang thị trƣờng Châu Âu làm động vật cảnh, đặc biệt là các loài cá cóc, đã không chỉ đe dọa nghiêm trọng đến các quần thể của các loài mà còn là nguồn lây lan dịch bệnh trên toàn cầu.
Nhận xét: Các nghiên cứu về LC ở các nƣớc trong khu vực trong thời gian gần đây có nhiều phát hiện mới. Tuy nhiên, nhiều loài LC đang đứng trƣớc nguy cơ tuyệt chủng với hơn 30% loài bị đe dọa do nhiều nguyên nhân khác nhau. Để bảo tồn các loài LC bên cạnh tiến hành kiểm kê xác định thành phần loài cần thiết phải đánh giá hiện trạng, nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái, tập tính, quan hệ di truyền làm cơ sở khoa học cho việc bảo tồn bền vững. Riêng lĩnh vực khám phá đa dạng về thành phần loài, LC vẫn là nhóm động vật có tiềm năng về khám phá loài mới và ghi nhận bổ sung vùng phân bố, đặc biệt là các nhóm có đặc điểm hình thái giống nhau.
Lƣợc sử nghiên cứu về lƣỡng cƣ ở Việt Nam 1. Lược sử nghiên cứu về lưỡng cư ở Việt Nam Theo Nguyễn Văn Sáng và cs. (2009), nghiên cứu về LC ở Việt Nam có lịch sử khá lâu đời nhƣng bắt đầu phát triển mạnh vào các giai đoạn cuối thế kỷ 19, giữa và cuối thế kỷ 20 và đặc biệt là những năm đầu thế kỷ 21, đã có hàng loạt công trình công bố về loài mới vào nửa đầu thế kỷ 20 nhƣng đáng chú ý có công trình của Bourret (1942) mang tựa đề Les Batraciens de l’Indochine. Cuốn sách đã mô tả 171 loài và phân loài lƣỡng cƣ ở vùng Đông Dƣơng (Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia), đây có thể coi là tài liệu đầy đủ nhất về LC trong khu vực vào giữa thế kỷ XX.
6 Năm 1977, Đào Văn Tiến đã công bố khóa định loại 87 loài lƣỡng cƣ trong bài báo “Về định loại lƣỡng cƣ Việt Nam” [13]. Năm 1981, Trần Kiên và cộng sự đã thống kê thành phần loài động vật Miền Bắc Việt Nam (1955- 1976) trong đó có 69 loài lƣỡng cƣ. Năm 1996, Nguyễn Văn Sáng và Hồ Thu Cúc xuất bản chuyên khảo Danh lục bò sát và lƣỡng cƣ Việt Nam ghi nhận 82 loài lƣỡng cƣ. Nguyễn Văn Sáng và cs.
(2005) thống kê trong cuốn Danh lục lƣỡng cƣ và bò sát Việt Nam có 162 loài lƣỡng cƣ. Cuốn danh lục gần đây nhất của Nguyen và cs. Sự đa dạng các loài lƣỡng cƣ ở Frost 2019 Từ năm 2010 trở lại đây đã có hơn 40 loài lƣỡng cƣ mới ghi nhận và mô tả [7, 36].