CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu bao gồm: Lý do chọn đề tài, Mục tiêu nghiên cứu, Đối tượng và phạm vi nghiên cứu, Phương pháp nghiên cứu, Ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu và cuối cùng là Kết cấu của luận văn. CHƯƠNG 2 – CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Trình bày các cơ sở lý thuyết của nghiên cứu gồm có: cơ sở lý thuyết về đào tạo, các yếu tố tác động đến chất lượng đào tạo bằng phương pháp E-Learning ảnh hưởng đến sự hài lòng của học viên, Cơ sở lý thuyết về sự hài lòng, thuyết nền và các mô hình trước đó, Đề xuất mô hình lý thuyết. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Trình bày phương pháp nghiên cứu và xây dựng thang đo CHƯƠNG 4 – PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Trình bày về kiểm định thang đo và kết quả chạy hồi quy CHƯƠNG 5 – GIẢI PHÁP Tóm tắt kết quả nghiên cứu, đưa ra giải pháp, những hạn chế và đưa ra hướng nghiên cứu tiếp theo TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Lý thuyết về đào tạo 2.1 Thuyết về đào tạo 2.1 Khái niệm Tony Bingham và Marcia Conner đã định nghĩa “Đào tạo như một quá trình thay đổi để nhận lấy thông tin, thông tin đó được tiếp thu và kết hợp với những cái mà chúng ta đã trải nghiệm, thay đổi những thứ mà chúng ta biết và xây dựng dựa trên những cái mà chúng ta làm. Nó dựa trên đầu vào, thông qua quy trình và sự phản ánh.
Đó là những cái làm thay đổi chúng ta. Mayer thì “Học tập liên quan đến việc gia tăng những phản ứng đúng và làm giảm đi những phản ứng sai. Học tập liên quan đến việc thêm thông tin mới vào bộ nhớ của người học. Học tập liên quan đến việc tạo ra ý nghĩa bằng cách lắng nghe các thông tin liên quan, sắp xếp lại chúng và kết nối chúng với những gì bạn đã biết.
” Trong nội dung của “Chủ nghĩa kết nối: lý thuyết học tập cho kỷ nguyên số” G. Sermens có đề cập “Học tập là một quá trình xảy ra trong môi trường mơ hồ bằng việc chuyển đổi các yếu tố cốt lõi - không hoàn toàn bị kiểm soát bởi các cá nhân. Học tập (được định nghĩa là kiến thức hữu ích) có thể tồn tại bên ngoài chính chúng ta (trong tổ chức hoặc một cơ sở dữ liệu nào đó), chúng được tập trung vào việc kết nối các bộ thông tin đặc trưng và những sự kết nối cho phép chúng ta có thể học hỏi ngày càng nhiều hơn là sự hiểu biết hiện tại của chúng ta. ” Theo thuyết về chủ nghĩa hành vi (Behaviourism Theory) cho rằng việc học tập được đo lường bởi sự quan sát hành vi và sự thay đổi trong trải nghiệm vật lý của sinh viên.
Skinner (1974) đã cho rằng “Việc học là sự thay đổi trong hành vi quan sát được gây ra bởi các tác nhân kích thích bên ngoài môi trường”. Theo như những người tin vào thuyết này, phản ứng của các cá nhân đối với các kích thích bên ngoài cho thấy quá trình tư duy của cá nhân đó. Có thể kể đến một vài thí nghiệm dẫn chứng về Thuyết chủ nghĩa hành vi này ở buổi sơ khai như của Watson (1913). Ông đã thực hiện cuộc thí nghiệm trên động vật, cụ thể là con chó.
Bằng việc rung chuông khi chú chó được cho ăn, cứ như thế TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 lập lại, chú chó được huấn luyện để phản ứng lại kích thích từ môi trường bên ngoài là tiếng chuông. Hay như Skinner, người đã dựa trên rất nhiều công trình nghiên cứu trước đó của Watson và ông cũng đã tự tay thực hiện cuộc thử nghiệm trên loài chuột bằng cách nhấn vào đòn bẫy để nhận được thức ăn. Do đó, mỗi khi con chuột cần thức ăn nó chỉ cần đẩy cần gạt, đó cũng là một nghiên cứu cho thấy con chuột đã thay đổi hành vi của chúng thông qua các kích thích từ môi trường bên ngoài là cần gạt và đồ ăn. Thuyết học tập nhận thức (Cognitive Learning Theory) thì trái ngược với Thuyết về chủ nghĩa hành vi, thuyết này cho rằng học tập không chỉ là phản ứng lại các kích thích từ môi trường bên ngoài, bởi vì còn có nhiều yếu tố khác sẽ bị bỏ qua nếu như hành vi duy nhất chỉ là quan sát.
Thuyết này phát biểu rằng các cá nhân/ sinh viên/ người học có những phương cách xử lý thông tin của chính họ, cái mà có thể giúp họ trong suy nghĩ, học tập và nhận thức một vấn đề nào đó bằng một cách rất riêng (Witkin, Moore, Goodenough và Cox, 1975).Theo đó, thay vì chỉ tập trung vào phản ứng, Thuyết này cố gắng xác định các nền tảng, kinh nghiệm từ các kích thích bên ngoài cái mà đã gây ra những hành vi (Merriam & Caffarella, 1999). Bởi vì rất khó để thiết kế nội dung học trực tuyến mà quản lý chính xác và hiệu quả các biến tác động đến sự thành công của bài học đối với tất cả các sinh viên, đó là một thử thách đối với các nhà thiết kế để xây dựng nên nội dung học tập, cái mà phù hợp và chính xác theo từng mức độ nhận thức riêng của sinh viên (McLeod, 2003). Do đó, để bao phủ hết mọi khía cạnh của việc học tập, buộc chúng ta phải cá nhân hóa thiết kế về nội dung của khóa học tương thích với kinh nghiệm và các cấp độ kỹ năng của người học, điều này gây ra việc tốn kém nhiều chi phí và thời gian. Thuyết nhận thức về học tập đa phương tiện (Cognitive Theory of Miltimedia Learning - CTML) được trình bày bởi Mayer, người cho rằng đa phương tiện hỗ trợ cách mà bộ não con người sẽ học hỏi.
Họ nhấn mạnh rằng mọi người học sẽ tốt hơn thông qua những từ ngữ và hình ảnh thay vì chỉ là những từ ngữ đơn thuần, cái đó được cho là nguyên tắc đa phương tiện (Mayer, 2005). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Các nhà nghiên cứu thường định nghĩa đa phương tiện là sự kết hợp của văn bản và hình ảnh; và đề xuất rằng học tập đa phương tiện xảy ra khi chúng ta xây dựng những sự trình bày bằng tinh thần (tạm dịch từ “build mental representations”) thông qua những từ ngữ, hình ảnh này (Mayer, 2005). Các từ đó có thể được nói hoặc viết và những hình ảnh có thể là bất kỳ hình ảnh đồ họa nào bao gồm những hình ảnh minh họa, những video. Việc thiết kế giảng dạy đa phương tiện là một nỗ lực sử dụng nghiên cứu nhận thức để kết hợp giữa những từ ngữ và hình ảnh theo cách tối đa hóa sự hiệu quả trong việc học tập.
Như vậy, khoa học nhận thức có thể cung cấp cái nhìn sâu sắc về bản chất con người và quan trọng hơn là tiềm năng của con người để phát triển các phương pháp hiệu quả hơn bằng cách sử dụng công nghệ trong việc giảng dạy (Sorden, 2005). Các yếu tố chính của Thuyết nhận thức về học tập đa phương tiện (CTML) tập trung vào ý kiến rằng những người học cố gắng để xây dựng các sự kết nối có ý nghĩa giữa các từ ngữ và hình ảnh, và họ học sâu sắc hơn thay vì chỉ có từ ngữ hoặc hình ảnh riêng lẻ (Mayer, 2009). Theo CTML, một trong những mục tiêu cơ bản của việc giảng dạy đa phương tiện là khuyến khích người học xây dựng một sự trình bày về mặt tinh thần thật mạch lạc đối với các tài liệu được trình bày. Công việc của người học là làm cho những tài liệu được trình bày có ý nghĩa như là một người tham gia tích cực và năng động, cuối cùng là tạo nên kiến thức mới.2 Giáo dục đại học Giáo dục đại học là nền giáo dục thường được diễn ra ở những cơ sở học tập như các trường đại học (kể cả hệ công lập và tư thục hệ hai năm), viện đại học, các trường chuyên nghiệp, sư phạm, cao đẳng và viện kỹ thuật.
Điều kiện căn bản để tham gia chương trình giáo dục đại học ở hầu hết các cơ sở học tập kể trên là phải tốt nghiệp trung học và độ tuổi thông thường là 18. Giáo dục đại học bao gồm các hoạt động như giảng dạy, nghiên cứu và thực hành với các hình thức như: giáo dục tổng quát (general education), giáo dục chú trọng đến các ngành khai phóng (liberal arts education), giáo dục mang tính huấn nghệ (vocational education), giáo dục chuyên nghiệp (professional education), … TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Vai trò của giáo dục đại học Giáo dục đại học được xem là một quá trình sản xuất và đầu ra là cung cấp nguồn nhân lực đạt chuẩn phục vụ cho xã hội. Theo quan điểm này thì người học được quan niệm như sản phẩm cung ứng cho thị trường lao động trong và ngoài nước. Từ đó giáo dục đại học là đầu vào, là nền tảng cốt lõi và sự phát triển bền vững cho mọi ngành trong đời sống.
Ở một quan điểm khác, giáo dục đại học dùng để đào tạo người học trở thành các nhà nghiên cứu, những người sẽ đi tiên phong trong việc thu thập dữ liệu, thông tin và dữ kiện nhằm thúc đẩy tri thức (theo Martyn Shuttleworth). Và chất lượng giáo dục đại học được tạo ra thông qua các công trình nghiên cứu, các công bố khoa học đạt chuẩn, mang lại lợi ích cho xã hội. Từ các quan điểm trên cho thấy, giáo dục đại học đóng một vai trò quan trọng là “Hệ thống nuôi dưỡng” (Feeder system) trong mọi lĩnh vực, là nguồn cung cấp nhân lực có trình độ để phục vụ cho công tác quản lý, quy hoạch, thiết kế giảng dạy và nghiên cứu,. Một quốc gia muốn phát triển về khoa học công nghệ và tăng trưởng về kinh tế thì phải có cả hai yếu tố: hệ thống giáo dục đại học và lực lượng lao động.
Bên cạnh đó, giáo dục đại học tạo ra cơ hội học tập suốt đời, cho phép người học có thể cập nhật những kiến thức mới và kỹ năng theo nhu cầu của xã hội.3 Trường đại học và các tổ chức của trường đại học Là một cơ sở giáo dục đại học, có khi là một đơn vị thành viên trong viện đại học hoặc đại học. Trong hệ thống giáo dục của Liên Xô cũ thường đào tạo theo hình thức phân mảnh, đào tạo chuyên sâu ngành nghề tức mỗi trường đại học tồn tại độc lập và tập trung đào tạo một chuyên ngành hay một nhóm chuyên ngành riêng.