CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. CÁC HỌC THUYẾT VỀ NẮM GIỮ TIỀN MẶT 1. Lý thuyết đánh đổi (Trade-off theory) Lý thuyết về nắm giữ tiền mặt được xây dựng trên cơ sở thuyết đánh đổi. Theo thuyết đánh đổi, các công ty tối đa hóa giá trị của mình bằng cách xem xét các chi phí cận biên và lợi ích cận biên của việc nắm giữ tiền mặt.
Có nhiều lợi ích của việc nắm giữ tiền mặt. Thứ nhất, nắm giữ tiền mặt sẽ làm giảm nguy cơ kiệt quệ tài chính, như một khoảng dự trữ an toàn cho những khoản lỗ bất ngờ xảy ra và tránh tăng chi phí huy động vốn bên ngoài. Thứ hai, nắm giữ tiền mặt cho phép công ty thực hiện chính sách đầu tư tối ưu của mình khi họ gặp ràng buộc về mặt tài chính. Việc nắm giữ tiền mặt như là một tấm đệm giữa nguồn và sử dụng nguồn của công ty.
Chi phí cận biên của việc nắm giữ tiền mặt là chi phí cơ hội của việc sử dụng vốn. Keynes (1936) đã đưa ra hai động cơ chính là động cơ giao dịch và động cơ phòng ngừa. Với động cơ giao dịch, Keynes (1936) cho rằng những công ty có thể gia tăng tính thanh khoản của công ty theo nhiều cách khác nhau, như huy động vốn, cắt giảm chi trả cổ tức hoặc giảm đầu tư, bán những tài sản có tính thanh khoản. Tuy nhiên, tất cả đều có chi phí.
Như vậy, tiền mặt có thể được sử dụng như một tấm đệm để chống lại vấn đề thanh toán ngắn hạn và khả năng từ chối những dự án có giá trị. Ngoài ra, Keynes (1936) còn cho rằng việc nắm giữ tiền mặt giúp các công ty an toàn khi đối mặt với nhu cầu chi tiêu bất ngờ hoặc không dự kiến trước mà không phải bán tài sản hoặc huy động vốn bên ngoài. Theo Dittmar và các cộng sự (2003); Miller và Orr (1966); Tobin (1956), các công ty dự trữ tiền mặt khi chi phí tăng và chi phí cơ hội liên quan Luan van 8 tới thiếu tiền mặt cao hơn. Với động cơ phòng ngừa xây dựng dựa trên tác động của thông tin bất đối xứng về huy động vốn, có ý kiến cho rằng ngay cả khi các công ty có thể huy động vốn từ thị trường vốn bên ngoài, họ vẫn có thể miễn cưỡng làm như vậy bởi vì các vấn đề thị trường (ví dụ khi thị trường đang định giá thấp chứng khoán công ty dự kiến phát hành).
Thuyết đánh đổi nhấn mạnh rằng công ty có dự trữ tiền mặt lớn có thể đạt được chính sách đầu tư tối ưu ngay cả khi họ gặp khó khăn tài chính. Miller và Orr (1966), Kim và cộng sự (1998) đã phát triển thuyết đánh đổi để xác định mức tối ưu nắm giữ tiền mặt bằng cách cân bằng chi phí khánh kiệt tiền mặt và các chi phí nắm giữ tiền mặt không hưởng lãi. Opler và các cộng sự (1999) xác định sự phổ biến của mức tối ưu tiền mặt mà tại đó chi phí biên của tình trạng thiếu tiền mặt ngang bằng với chi phí biên nắm giữ tiền mặt. Ferreira và Vilela (2004) lập luận rằng nắm giữ tiền mặt nhằm giảm xác suất của khủng hoảng tài chính do những khoản lỗ bất ngờ.
Lý thuyết trật tự phân hạng (The pecking order theory) Nền tảng đầu tiên cho thuyết trật tự phân hạng là những nghiên cứu của Donaldson (1961). Myers & Majluf (1984) đã có những nghiên cứu sâu hơn để chỉ ra rằng có một trật tự ưu tiên trong sử dụng các nguồn tài trợ nội bộ và nguồn tài trợ bên ngoài, giữa phát hành nợ mới và phát hành cổ phần bắt nguồn từ thông tin bất đối xứng. Theo quan điểm của nhà đầu tư, vốn cổ phần và nợ đều có rủi ro, tuy nhiên, mức độ rủi ro ở vốn cổ phần cao hơn, do đó đòi hỏi tỷ suất sinh lời cao hơn. Lý thuyết trật tự phân hạng của Myers và Majluf (1984) khẳng định rằng nguồn tài chính của công ty đầu tiên là lợi nhuận giữ lại, sau đó là vay nợ và cuối cùng là phát hành cổ phần.
Mục đích của thứ tự này là để tối thiểu hóa chi phí bất đối xứng thông tin và các chi phí tài chính. Vì khi dòng tiền hoạt động ở mức cao, các doanh nghiệp sử dụng chúng để tài trợ cho các dự án mới có lợi nhuận, hoặc là trả nợ, trả cổ tức và cuối cùng là Luan van 9 để tích lũy tiền. Khi lợi nhuận giữ lại là không đủ để tài trợ cho các khoản đầu tư mới, các công ty sử dụng các nguồn nội bộ và sau đó phát hành nợ mới. Lý thuyết này cho rằng không có mức nắm giữ tiền mặt tối ưu cho một công ty.
Thay vào đó, tiền mặt được dùng như một tấm đệm giữa lợi nhuận giữ lại và nhu cầu đầu tư. Theo Dittmar và các cộng sự (2003), quan điểm hệ thống trật tự phân hạng cho thấy rằng không có mức tiền mặt tối ưu, cũng không có mức tối ưu của số dư tiền nợ. Số dư tiền mặt chỉ đơn giản là kết quả của các quyết định đầu tư và tài trợ thực hiện bởi các công ty. Các công ty có dòng tiền lớn sẽ trả cổ tức, trả nợ và tích lũy tiền mặt.
Các công ty có dòng tiền thấp sẽ giảm lượng tiền mặt của họ, phát hành nợ để tài trợ cho dự án đầu tư, nhưng họ sẽ hạn chế phát hành cổ phiếu bởi vì khá tốn kém. Ferreira and Vilela (2004) cho rằng tiền có thể được sử dụng cho đầu tư tài chính để trả nợ cho công ty và tiếp theo là dự trữ tiền mặt. Những lợi ích của nắm giữ tiền mặt là: giảm đi khả năng rơi vào khủng hoảng, kiệt quệ tài chính, cho phép công ty theo đuổi các dự án đầu tư khi các ràng buộc về tài chính được đáp ứng, tối thiểu hóa chi phí huy động nguồn vốn từ các quỹ bên ngoài, thanh lý các tài sản hiện hành. Các lý thuyết trước đó như Al-Najjar (2011), Booth và cộng sự (2001) cho thấy rằng việc thông tin bất cân xứng vô cùng quan trọng, và có thể sẽ quan trọng hơn ở các nước đang phát triển.
Như vậy, ở môi trường của các nước đang phát triển thì vấn đề về việc bảo vệ quyền lợi của các cổ đông còn rất ít, cũng như khả năng xảy ra việc bất cân xứng thông tin là nhiều hơn. Lý thuyết dòng tiền tự do (Free Cash Flow Theory) Lý thuyết dòng tiền tự do của Jensen (1986) đã chỉ ra rằng các nhà quản lý có động cơ để tích trữ tiền mặt nhằm gia tăng tài sản dưới quyền kiểm soát của họ và đạt được quyền làm chủ các quyết định đầu tư của công ty. Cụ Luan van 10 thể, với việc nắm giữ nhiều tiền, họ không cần phải huy động vốn từ bên ngoài và có thể dễ dàng thực hiện các khoản đầu tư có tác động tiêu cực vào việc tối đa hóa giá trị của cổ đông. Vì vậy, nhà quản lý có thể giữ tiền dư thừa chỉ đơn giản bởi vì họ sợ rủi ro.
Theo đó, chi phí của việc nắm giữ tiền sẽ gia tăng bởi lẽ nhà đầu tư bên ngoài không biết rõ nhà quản lý sử dụng tiền vì mục đích riêng của mình hay để làm gia tăng giá trị của công ty. Khi đó, rủi ro của doanh nghiệp sẽ ở mức cao nên dĩ nhiên nếu quyết định đầu tư vào công ty các nhà đầu tư sẽ yêu cầu một tỷ suất sinh lợi tương ứng để bù đắp rủi ro tiềm ẩn. Cuối cùng, nhà quản lý có thể tích lũy tiền bởi vì họ không muốn trả tiền cho các cổ đông, và muốn giữ vốn trong công ty. Tuy nhiên, theo Opler (1999) nhà quản lý phải tìm cách để chi tiêu các khoản tiền dôi dư, và do đó có thể dẫn đến việc quyết định lựa chọn các dự án “nghèo” khi không có sẵn dự án tốt Có sự xung đột nghiêm trọng về lợi ích giữa các cổ đông và các nhà quản lý, vì số lượng lớn tiền mặt chủ yếu phục vụ lợi ích của các nhà quản lý.
Nắm giữ nhiều tiền mặt để đầu tư, các nhà quản lý không cần gia tăng nguồn tài trợ bên ngoài, cho phép họ tăng sức mạnh của mình và tự do chấp nhận các dự án mới mà không cần sự cho phép của cổ đông, lãng phí tiền bằng cách tiêu thụ bổng lộc hoặc quyết định đầu tư không hiệu quả. Mặt khác, các cổ đông có thể thích dòng tiền tự do được trả lại họ hơn. Tương quan dự kiến giữa các biến theo các học thuyết Lý thuyết trật Lý thuyết dòng Biến Thuyết đánh đổi tự phân hạng tiền tự do Quy mô công ty - + + Tài sản lưu động - Dòng tiền - + + Đòn bẩy +/- - - Luan van 11 Lý thuyết trật Lý thuyết dòng Biến Thuyết đánh đổi tự phân hạng tiền tự do Nợ đến hạn - Cơ hội đầu tư + Chi trả cổ tức - Chi tiêu vốn + - 1. CÁC ĐỘNG CƠ NẮM GIỮ TIỀN MẶT Bài nghiên cứu “Why do US firms hold so much more cash than they used to?” của Bates và cộng sự (2009) đã chỉ ra bốn động cơ để các công ty nắm giữ nhiều tiền mặt hơn, bao gồm: động cơ giao dịch, động cơ phòng ngừa, động cơ thuế và động cơ chi phí đại diện.
Động cơ giao dịch Đối với động cơ giao dịch, nắm giữ một lượng tiền mặt nhất định sẽ giúp cho doanh nghiệp đáp ứng được các hoạt động thường xuyên của mình. Trong tác phẩm nổi tiếng Lý thuyết chung về Việc làm, Lãi suất và Tiền tệ của John Maynard Keynes (1936), đã nhận định về động cơ giao dịch được hình thành dựa trên chi phí phát sinh khi doanh nghiệp phải đối mặt với những giao dịch trong chuyển đổi tài sản thành tiền mặt cho những hoạt động thường xuyên của doanh nghiệp mình. Tiền mặt là cần thiết để thỏa mãn động cơ giao dịch, cần thiết giữ tiền mặt trong tay để thanh toán các hóa đơn. Những nhu cầu liên quan đến giao dịch này xuất phát từ chi tiêu thông thường và hoạt động thu hồi tiền của doanh nghiệp.
Sự chi tiêu tiền mặt bao gồm trả lương, nợ thương mại, thuế và cổ tức. Tiền mặt được thu thập từ bán sản phẩm, bán tài sản và tài trợ mới. Dòng tiền vào (thu hồi tiền) và dòng tiền ra (chi tiêu) là không hoàn toàn tương thích, và một số mức tiền mặt là cần thiết để dự trữ như là một tấm đệm Luan van 12 an toàn.