CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. GIỚI THIỆU VỀ MẠNG XÃ HỘI VÀ QUẢNG CÁO QUA MẠNG XÃ HỘI 1. Mạng xã hội Mạng xã hội hay gọi là mạng xã hội ảo, (trong tiếng Anh gọi là: social network), là dịch vụ nối kết các thành viên cùng sở thích trên Internet lại với nhau, với nhiều mục đích khác nhau không phân biệt không gian và thời gian. Vậy theo đó, có thể hiểu mạng xã hội ảo có 2 đặc trưng cơ bản sau: + Có sự tham gia trực tiếp của nhiều cá nhân trên cùng một trang web (hoặc các doanh nghiệp – nhưng có vai trò như các cá nhân).
+ Mạng xã hội là 1 website mở, nội dung của website được xây dựng hoàn toàn bởi các thành viên tham gia trong website. Mạng xã hội đề cập đến việc giữ các mối quan hệ giữa các cá nhân trong một nhóm, những người được công nhận bởi những thỏa thuận về mục tiêu, chia sẻ nhận thức có giá trị, giá trị xã hội, hoặc thậm chí lựa chọn giải trí (Clemons, 2009). Vì vậy, mọi người trong mạng xã hội tin tưởng nhau (Clemons, 2009). Mạng xã hội được hiểu là một xã hội ảo với hai thành tố chính tạo nên đó là các thành viên và liên kết giữa các thành viên đó.
Mọi thành viên trong mạng xã hội cùng kết nối và mỗi người là một mắt xích để tạo nên một mạng lưới rộng lớn truyền tải thông tin trong đó. Khi tham gia tạo một tài khoản cá nhân trên trang mạng xã hội, người dùng sẽ được yêu cầu cung cấp một số thông tin cá nhân như tên, tuổi, trường học, nơi làm việc… cùng những sở thích cá nhân như: loại phim, sách, Luan van 10 nhạc… yêu thích. Người dùng còn có thể đăng tải những hình ảnh cá nhân trong hồ sơ của mình. Sau khi tạo xong tài khoản cá nhân, người dùng được gợi ý để kết nối với bạn bè trong hệ thống mạng xã hội mà họ tham gia tùy theo mối quan hệ như: Bạn bè (Friends), Hâm mộ (Fans).
Người dùng cũng có thể tìm kiếm và kết nối với tài khoản của bạn bè mà họ đã hoặc chưa quen biết trong hệ thống. Các trang mạng xã hội là nơi cho phép mọi người chia sẻ thông tin, phim ảnh, trang web, chat, e-mail, voichat, … với nhau, ở đó họ có thể kết nối, bình luận các chủ đề họ quan tâm, nơi mà suy nghĩ và việc làm của cá nhân sẽ được chia sẻ với thế giới chỉ trong một cái click chuột. Dịch vụ này cung cấp nhiều cách thức để thành viên tìm kiếm bạn bè, hoặc đối tác như tìm theo nhóm (group), theo thông tin cá nhân, sở thích hay các lĩnh vực kinh doanh, mua bán. Ngoài ra một số trang mạng xã hội còn cung cấp cho người dùng một số ứng dụng nâng cao.
Với đặc điểm kết nối và chia sẻ rất mạnh mẽ, mạng xã hội đã nhanh chóng được người dùng đón nhận, hàng trăm triệu thành viên liên kết với nhau trên khắp thế giới. Mạng xã hội là nơi dành cho những người có nhu cầu thông tin và động lực tương tác xã hội cao. Các trang mạng xã hội được xếp hạng theo số lượng người hoạt động trên thế giới từ tháng 4/2018 (triệu người) Nguồn: www.com Luan van 11 Tại Việt Nam, một số trang mạng xã hội phổ biến: Facebook, zalo, youtube, Instagram… 1. Quảng cáo qua mạng xã hội a.
Giới thiệu về quảng cáo qua mạng xã hội Theo Zikmund và D’Amico (1999), quảng cáo là một thông điệp truyền tải thông tin hoặc thuyết phục khách hàng được thực hiện bởi các phương tiện truyền thông và doanh nghiệp phải trả tiền cho việc truyền tải thông tin về tổ chức và sản phẩm của mình. Còn Richards và Curran (2002), cho rằng quảng cáo là một sự kiện, hình ảnh, hoặc quan niệm ảnh hưởng đến cảm nhận của khách hàng về một sản phẩm cụ thể. Đôi khi quảng cáo được lên kế hoạch, đôi khi nó là vô ý, và xảy ra tình cờ. Đôi khi nó được trả tiền và đôi khi nó không phải trả tiền.
Đôi khi nó xảy ra ở thị trường đại chúng; đôi khi nó xảy ra ở phạm vi cá nhân. Theo Kotler và Amstrong (2013), tổ hợp chiêu thị có năm công cụ chính: quảng cáo, khuyến mãi, bán hàng cá nhân, quan hệ công chúng, marketing trực tiếp. Trong đó, quảng cáo được hiểu là mọi hình thức giới thiệu và quảng bá phi cá nhân về ý tưởng, sản phẩm, dịch vụ do một nhà tài trợ xác định chi trả (bao gồm quảng cáo trên truyền hình, trên ấn phẩm được in ấn, trên internet, quảng cáo ngoài trời…). Tuy có nhiều khái niệm về quảng cáo như vậy, tất cả đều có điểm chung rằng quảng cáo là hình thức tuyên truyền được trả phí hoặc không để thực hiện việc giới thiệu thông tin về sản phẩm, dịch vụ của công ty hay ý tưởng, quảng cáo là hoạt động truyền thông phi trực tiếp giữa người với người mà trong đó người muốn truyền thông phải trả tiền cho các phương tiện truyền thông đại chúng để đưa thông tin đến thuyết phục hay tác động đến người nhận thông tin.
Quảng cáo được chuyển đi bằng nhiều phương tiện truyền thông khác Luan van 12 nhau: Quảng cáo trên truyền hình, báo chí, Internet, phát thanh, quảng cáo qua bưu điện, quảng cáo qua các phương tiện thông tin vận chuyển, quảng cáo qua tờ rơi, ốp-phích, pano hay băng rôn, quảng cáo bằng truyền miệng hoặc qua SMS… Xã hội ngày càng phát triển, các phương tiện quảng cáo ngày càng đa dạng, giúp các doanh nghiệp có thể lựa chọn nhiều kênh khác nhau để giới thiệu về hình ảnh, thương hiệu, sản phẩm của doanh nghiệp đến khách hàng. Đặc biệt, với sự phát triển của công nghệ web 2.0 cùng với sự phát triển của mạng xã hội phổ biến như hiện nay thì việc quảng cáo thông qua mạng xã hội đang là xu hướng và là cơ hội cho các doanh nghiệp tiếp cận càng gần đến khách hàng của mình. Quảng cáo trực tuyến là hình thức thương mại trên mạng mà các doanh nghiệp thiết kế để thông báo cho người tiêu dùng về một sản phẩm hay dịch vụ qua một hình ảnh tĩnh, banner, hoặc flash video,… tại các trang web. Quảng cáo trực tuyến có nhiều dạng: tài trợ, rao vặt,… trong đó banner là hình thức phổ biến nhất.
Quảng cáo mạng xã hội là một dạng quảng cáo trực tuyến trong một hệ thống mà các thành viên cùng chia sẻ những giá trị và nhận thức, đây là hình thức được lựa chọn để quảng cáo của các nhà quảng cáo muốn có chiến dịch quảng cáo thâm nhập sâu hơn vào nhóm khách hàng. Có hai hình thức quảng cáo qua mạng xã hội: quảng cáo qua banner, các banner này sẽ được hiển thị trên trang cá nhân của người dùng hoặc tạo một trang quảng cáo riêng sau đó người dùng có thể cập nhật thông tin liên tục tới những trang cá nhân của các thành viên khác dưới chế độ “người hâm mộ (fan)”. Với quảng cáo mạng xã hội, người tiêu dùng có quyền lựa chọn việc xem quảng cáo hay không bằng cách nhấp chuột vào, và muốn xem bao nhiêu, khi nào là tùy ý, người dùng có thể kiểm soát việc tiếp xúc với quảng Luan van 13 cáo. Ở đây người tiêu dùng không còn bị động, không còn bị bắt buộc trong việc tiếp xúc với quảng cáo.
Mạng xã hội cho phép các cá nhân tương tác với nhau và xây dựng mối quan hệ. Trong khi các sản phẩm hoặc các công ty tham gia các mạng xã hội, mọi người có thể tương tác với sản phẩm hoặc công ty đó. Các trang web mạng xã hội và blog cho phép người sử dụng đưa ra những ý kiến bình luận, nhận xét và chia sẻ bài viết cho các thành viên khác, điều này thúc đẩy việc phát triển sản phẩm và thương hiệu cho các công ty tham gia. Lợi ích của việc quảng cáo qua mạng xã hội Về phía doanh nghiệp, MXH mang lại cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bằng nhiều lợi ích sau: Độ tương tác cao: doanh nghiệp có thể nhanh chóng tiếp cận ý kiến phản hồi từ phía khách hàng, thảo luận, chia sẽ vấn đề cùng họ, thực hiện các cuộc thăm dò hoặc giải đáp các thắc mắc khó khăn của họ…Từ đó kiểm soát tối đa các vấn đề tiêu cực có thể nảy sinh; Tiết kiệm chi phí: Chỉ cần bỏ ra một khoản chi phí nhỏ, thậm chí là không mất chi phí cho việc quảng bá thương hiệu hoặc đăng tuyển dụng trên các trang mạng xã hội, doanh nghiệp hoàn toàn có thể thu lại kết quả tích cực.
Xu hướng marketing trên mạng xã hội đang được sử dụng rộng rãi trên thế giới; Thiết lập mối quan hệ với số đông khách hàng mục tiêu; Khả năng lan truyền thông tin nhanh chóng; Các hoạt động trực tuyến sẽ truyền cảm hứng cho các cuộc hội thoại trong “thế giới thực”; Thông tin cá nhân khá chân thực về người dùng; Cơ hội để kể chuyện về doanh nghiệp và sản phẩm của bạn đồng thời tăng độ nhận biết thương hiệu; Luan van 14 Gia tăng trải nghiệm với người dùng. THÁI ĐỘ NGƯỜI TIÊU DÙNG ĐỐI VỚI QUẢNG CÁO QUA MẠNG XÃ HỘI 1. Khái niệm thái độ Người đầu tiên nghiên cứu về thái độ là A.Lagiurxki (1874 – 1917), Ông cho rằng, thái độ là sự biểu hiện ra bên ngoài của cái tâm lý, phản ứng với sự tác động của môi trường xung quanh. Ông hiểu thái độ với môi trường xung quanh theo nghĩa rộng, bao gồm thái độ với giới tự nhiên, với sản phẩm lao động, với những cá nhân khác, với các nhóm xã hội và với những giá trị tinh thần.
Theo Phương Tây: Những người đầu tiên sử dụng khái niệm thái độ là W. Zaniecki cho rằng “thái độ là trạng thái của cá nhân đối với một giá trị”. Còn Allport cho rằng “thái độ là trạng thái sẵn sàng về mặt tinh thần và thần kinh được tổ chức thông qua kinh nghiệm, có khả năng điều chỉnh hoặc ảnh hưởng năng động đối với phản ứng của cá nhân hướng đến các khách thể và tình huống mà nó quan hệ”. Như vậy, thái độ được coi là như một trang thái tâm lý và thần kinh hoạt động, tuy nhiên ông chưa nói đến vai trò của môi tường xã hội, của nhu cầu trong quá trình hình thành thái độ.
Theo Kotler và Amstrong (2013), thái độ là sự đánh giá tốt xấu, những cảm nghĩ và xu hướng hành động của một cá nhân đối với một đối tượng hoặc một ý tưởng nào đó.