CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LÒNG TRUNG THÀNH CỦA KHÁCH HÀNG TRONG LĨNH VỰC DỊCH VỤ THÔNG TIN DI ĐỘNG 1. TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG VIỄN THÔNG DI ĐỘNG 1. Các nhà mạng di động tại Việt Nam Ngày 16/4/1993 sự ra đời của mạng MobiFone đã đánh dấu sự khởi đầu cho ngành thông tin di động Việt Nam. Trong giai đoạn đầu này, MobiFone là mạng duy nhất độc quyền cung cấp dịch vụ viễn thông di động cho cả nước, do vậy cước phí hòa mạng và sử dụng vẫn còn rất cao, số lượng thuê bao vẫn còn hạn chế.
Sau 20 năm thành lập, đến nay toàn thị trường thông tin di động nước ta đã có hơn 136 triệu thuê bao với 6 mạng di động MobiFone, Vinaphone, Viettel, SFone, G-Mobile và Vietnamobile. Công ty dịch vụ viễn thông Việt Nam (Vinaphone) Công ty dịch vụ viễn thông Việt Nam là một thành viên của Tổng công ty bưu chính viễn thông Việt Nam (VNPT). Hiện nay, Vinaphone đang cung cấp 6 đầu số thuê bao (091, 094, 0123, 0125, 0127, 0129) với khoảng trên 36 triệu thuê bao. Công ty viễn thông quân đội (Viettel) Công ty viễn thông quân đội là một thành viên của tập đoàn viễn thông quân đội.
Đầu năm 2012, Viettel đã tiến hành sáp nhập công ty viễn thông điện lực (EVN telecom). Do đó Viettel đã trở thành nhà cung cấp dịch vụ thông tin có thị phần lớn nhất ở Việt Nam. Hiện nay, Viettel là một trong những nhà cung cấp lớn dịch vụ thông tin di động lớn nhất của Việt Nam với việc sở hữu 10 đầu số thuê bao (098, 097, 096, 0163, 0164, 0165, 0166, 0167, 0168, 0169) với trên 47,4 triệu thuê bao. Công ty dịch vụ viễn thông Việt Nam (VMS - Mobifone) Công ty dịch vụ viễn thông Việt Nam là công ty TNHH một thành viên Luan van 5 trực thuộc Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam.
Hiện nay, Mobifone là nhà cung cấp dịch vụ với 8 đầu số thuê bao (090, 093, 0122, 0124, 0126, 0128, 0121, 0120) và có khoảng 21 triệu thuê bao. Các nhà cung cấp khác Các nhà cung cấp khác gồm có SPT (S-Fone) (với đầu số thuê bao 095); Gtel mobile (với các đầu số thuê bao 099 và 0199) và Vietnammobile (với 2 đầu số thuê bao 092 và 0188). Thị phần thuê bao của các nhà cung cấp này rất thấp do vậy các nhà cung cấp này đã gặp rất nhiều khó khăn trong việc phát triển để trở thành các nhà cung cấp lớn. Công nghệ điện thoại di động tại Việt Nam a.
Công nghệ GSM Dịch vụ thông tin di động toàn cầu (GSM: Global System for Mobile Communications) đã chiếm hơn 80% thị trường thông tin di động toàn thế giới với hơn 4,3 tỷ người sử dụng điện thoại di động. Lợi ích mà hệ thống GSM đem lại như: có hệ thống tiêu chuẩn rõ ràng, dễ dàng trong triển khai, lắp đặt, áp dụng cấu trúc mở cho việc Roaming quốc tế và cung cấp dịch vụ giá trị gia tăng. Sử dụng GSM khách hàng không chỉ có thể di chuyển trong phạm vi toàn mạng mà còn di chuyển giữa các mạng GSM trên phạm vi toàn cầu mà không cần bất cứ một thủ tục điều chỉnh,k thay đổi nào. Tuy nhiên, hệ thống GSM không bảo mật tuyệt đối thông tin của thuê bao.
Công nghệ CDMA CDMA viết đầy đủ là Code Division Multiple Access nghĩa là Đa truy nhập (đa người dùng) phân chia theo mã. GSM phân phối tần số thành những kênh nhỏ, rồi chia sẻ thời gian các kênh ấy cho người sử dụng. Mọi khách hàng có thể nói đồng thời và tín hiệu được phát đi trên cùng một giải tần. các kênh thuê bao được tách biệt bằng cách sử dụng mã ngẫu nhiên.
Luan van 6 Công nghệ CDMA cho phép quản lý số lượng thuê bao gấp 5 – 20 lần so với công nghệ GSM. CDMA mang lại chất lượng thoại cao, ít bị nhiễu. Với CDMA, ở những vùng chuyển giao thuê bao có thể liên lạc với 2 hoặc 3 trạm thu phát cùng một lúc, do đó cuộc gọi không bị ngắt quãng, làm giảm đáng kể xác suất rớt cuộc gọi. Tuy nhiên, còn nhìu trở ngại như: phải mua máy của các nhà khai thác, không dễ dàng chuyển cùng quốc tế và sử dụng các dịch vụ giá trị gia tăng khác mà GSM cung cấp.
Công nghệ 3G Mạng 3G (third-generation technology) là thế hệ thứ ba của chuẩn công nghệ điện thoại di động, cho phép truyền cả dữ liệu thoại và dữ liệu thoại và dữ liệu ngoài thoại (tải dữ liệu, gửi mail, tin nhắn nhanh, hình ảnh…). Điểm mạnh của công nghệ này so với công nghệ 2G và 2.5G là cho phép truyền, nhận các dữ liệu, âm thanh, hình ảnh, chất lượng cao cho thuê bao cố định và thuê bao đang di chuyển ở các tốc độ khách nhau. Công nghệ 3G, các nhà cung cấp có thể mang đến cho khách hàng các dịch vụ đa phương tiện như: âm nhạc chất lượng cao; hình ảnh video chất lượng và truyền hình số; các dịch vụ định vị toàn cầu (GPS); E-mail; video streaming; High-ends games… 1. Thực trạng thuê bao ảo trong ngành viễn thông Hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp viễn thông trong nước đang phải đau đầu với tình trạng “thuê bao ảo” - hậu quả của những “cơn mưa khuyến mãi” mà các mạng thi nhau tung ra để thu hút thêm nhiều thuê bao mới.
Có thể thấy ở đây, với hàng loạt các chương trình khuyến mại và giảm cước ồ ạt, việc số lượng thuê bao tăng đột biến ở các mạng di động là điều không khó lý giải. Tình trạng thuê bao ảo đã gây ảnh hưởng đến dung lượng mạng và gây Luan van 7 lãng phí kho tài nguyên số, nghẽn mạng đã trở thành “chuyện thường ngày ở huyện” của nhiều mạng di động, đặc biệt là ở các mạng GSM. Cuộc cạnh tranh khuyến mãi thu hút khách trở nên rầm rộ nhất khi Viettel tham gia kinh doanh viễn thông với những chương trình khuyến mãi lớn.Điều này khiến số lượng thuê bao đang lũ lượt rời từ mạng này sang mạng kia. Chẳng hạn khi Viettel Mobile với chương trình khuyến mại chào đón thuê bao thứ 10 triệu, với giải đặc biệt tới.1 tỷ đồng khi quay số trúng thưởng, tặng 660.000 đồng khi khách hàng hòa mạng trả sau.
Tương tự, VinaPhone liền công bố chương trình tặng tiền từ 200.000 đồng cho tất cả thuê bao. Thuê bao trả trước hoà mạng mới sẽ được nhận quà tặng trị giá 260.000 đồng và 120 ngày sử dụng. Thuê bao trả trước khoá 2 chiều trước 20/3/2007 sẽ nhận quà tặng trị giá 200.000 và 80 ngàysử dụng cho “SIM cũ hồi mạng”. Thuê bao VinaPhone trả sau hoà mạng mới hoặc thuê bao chuyển từ trả trước sang trả sau được tặng 600.000 đồng cước liên lạc trong nước trong vòng 6 tháng, tính từ tháng hoà mạng, mỗi tháng tặng 100.
Với thuê bao trả sau đang hoạt động thì tùy từng mức cước phát sinh sẽ được miễn phí cước gọi trong nước. Để ’’trả đòn’’,MobiFone ganh đua không kém với chi phí đầu tư lên tới hơn 181 tỷ đồng cho đợt khuyến mại này, cũng với chiêu nhân đôi tài khoản, và tặng 105 ngày sử dụng cho tất cả thuê bao MobiCard hòa mạng. Đồng thời, mạng này cũng tặng tiếp 100% giá trị nạp tiền cho thuê bao nạp tiền lần thứ 2,3,4 vào tài khoản trước khi khoá 1 chiều. Trên thực tế, chỉ ngay sau khi hết đợt khuyến mại, thuê bao sẽ lần lượt rời mạng, bỏ sim đi một cách phí hoài.
Và để tiếp tục, các mạng di động phải.bắt đầu lại từ đầu. Điều này dẫn đến cả một trào lưu mua sim mới Luan van 8 thay cho nạp thẻ cào. Năm 2005, lượng phát triển thuê bao di động mới của MobiFone đạt mức : 2,5 triệu thuê bao mới. Tuy nhiên, số lượng thuê bao phát triển thực của MobiFone chỉ đạt 1,15 triệu; còn 1,35 triệu thuê bao phát triển mới là ảo.
Và trong tổng số gần 6,4 triệu thuê bao di động phát triển mới trong năm 2006 thì có tới trên 4,7 triệu thuê bao ảo đã rời mạng hoặc không phát sinh cước. Như vậy, trong cả năm, số thuê bao thực mà MobiFone phát triển được chỉ có khoảng 1,65 triệu. Con số tương tự ở mạng Vinaphone là 40% thuê bao ảo trên tổng số thuê bao kích hoạt mới. Trong tổng số 4,4 triệu thuê bao phát triển mới trong năm 2006 thì có tới 2,7 triệu thuê bao ảo không phát sinh cước.
VinaPhone công bố tổng số thuê bao thực, tính đến tháng 3/07 là 5,5 triệu thuê bao, so với 9 triệu thuê bao ảo. Mạng di động 098 - Viettel Mobile tuyên bố trên các phương tiện thông tin đại chúng rằng số thuê bao phát triển mới của họ đạt trên 5 triệu trong năm 2006. Tuy nhiên, ít ai biết rằng con số này bao gồm cả trên 30% là thuê bao ảo. Số thuê bao di động ở Việt Nam là gần 11 triệu thuê bao thực vào giữa năm 2006.
Trong khi đó, nếu theo như con số thuê bao được các mạng di động công bố lên đến 17 triệu thuê bao, số thuê bao ảo chiếm đến 6 triệu thuê bao. Đặc điểm thị trường dịch vụ thông tin di động của thành phố Kon Tum Thị trường viễn thông di động tại Kon Tum nói riêng cũng như thị trường Việt Nam nói chung hiện nay là một thị trường cạnh tranh gay gắt khi có ngày càng nhiều các nhà cung cấp dịch vụ tham gia vào thị trường thông tin di động, giá cước cạnh tranh theo xu hướng giảm dần làm xuất hiện làn Luan van 9 sóng thuê bao chuyển từ mạng này sang mạng khác là một hiện tượng rất phổ biến trong thời điểm hiện tại. Khi số thuê bao ngày càng tiến đến điểm bão hòa và giá cước không còn là lợi thế đối với riêng doanh nghiệp nào thì việc tìm kiếm và tạo khách hàng mới không chỉ rất khó khăn mà còn tốn rất nhiều chi phí dành cho quảng cáo – khuyến mãi. Theo thống kê của các chuyên gia thì số lượng thuê bao di động phát triển và gia tăng rất nhanh chóng, từ 11 triệu thuê bao năm 2005 đã tăng lên đến con số trên 136 triệu thuê bao vào cuối năm 2013.
Tuy nhiên theo điều tra thì trong tổng số 136 triệu thuê bao này thì có đến 20-25% là thuê bao ảo. Trong những năm gần đây, cuộc chạy đua cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước bộc lộ nhiều điểm hạn chế. Điều đó minh chứng rất rõ thông qua công cụ cạnh tranh chủ yếu của các doanh nghiệp chỉ là giảm giá và khuyến mãi. Để thu hút thuê bao mới, các mạng di động phải đua nhau khuyến mãi liên tục các tháng trong năm, với tỷ lệ giảm giá ngày càng cao.