mở đầu. Vào hồi 8 giờ 05 phút ngày 6 tháng 6 năm 1977, trái tim Nguyễn Công Hoan đã ngừng đập. Cuộc đời viết văn của ông bắt đầu từ tuổi 17, đến 20 tuổi ra sách của riêng mình và sáng tác cho đến tận năm 76 tuổi. Từ một cậu bé yêu văn học, thích tạo ra tiếng cười cho những người xung quanh đến một nhà văn trào phúng bậc thầy lỗi lạc.
Như một cái cây kiên cường đứng giữa bão táp: bão táp của dư luận (Nghiên cứu toàn bộ sự nghiệp sáng tác của ông chúng tôi thấy rằng: không phải truyện của ông ngay từ đầu đã được giới quan sát thừa nhận, ngay từ những tập truyện ngắn đầu tiên của ông như "Kép Tư Bền" đã nhận được rất nhiều những ý kiến khen - chê khác nhau từ những nhà phê bình thuộc nhiều trường phái khác nhau. Và cũng không phải truyện ngắn nào của ông cũng được độc giả đón nhận, hiểu đúng ý đồ sáng tác, thậm chí ông 18 còn bị độc giả hiểu nhầm. Khi cuốn "Thanh Đạm" ra đời năm 1942, ông đã bị dư luận cho là "tán dương quan trường" [31, tr.219], lúc đó ông đã rất "hậm hực, buồn bã hết sức, đâm ra chán nản với nghề" [tr.220] và mãi đến tận hơn mười năm sau ông mới tự mình thanh minh được) và bão táp của cường quyền (truyện của ông luôn bị kiểm duyệt gắt gao, mấy lần bị chính quyền Thực dân gọi ra tòa và cũng đã phải ngồi tù trong một thời gian khá dài). Mặc dù liên tiếp gặp bão táp nhưng ông không hề nản chí, vẫn luôn giữ trong mình một niềm tin để tiếp tục tạo ra những tác phẩm xuất sắc.
Cả cuộc đời 57 năm cầm bút của ông đã gắn liền với số phận của dân tộc, gắn bó với cách mạng. Và cũng có thể khẳng định rằng ở thế hệ ông, ít có nhà văn nào lại phải trải qua những cảnh đời như ông đã từng thử thách và gánh chịu. Trước Cách mạng Tháng 8, ông và gia đình luôn luôn phải sống trong sự theo dõi của bọn mật thám, rồi những vụ khám xét và bắt bớ, kết tội của chính quyền Thực dân đã khiến cho gia đình ông tan tác. Ông thường xuyên phải tận mắt chứng kiến cảnh người thân của mình bị tra tấn, tù đầy.
Niềm đau xót của ông lên đến tận cùng khi nhận được tin người con trai cả đã hi sinh (trong kháng chiến chống Thực dân Pháp) khi anh mới ở độ tuổi 20. Đó là người con mà ông yêu quý nhất, người con giống ông từ dáng hình đến tính cách con người, người con thông minh và đầy tài năng. Không chỉ chứng kiến một người con ngã xuống mà cứ sáu tháng một lần trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp, những người ruột thịt trong gia đình ông theo nhau hi sinh. Kháng chiến chín năm gia đình ông đã hiến dâng cho Tổ quốc sáu người.
Nỗi đau đã không ngừng đến với ông và rồi không còn gì đau đớn hơn khi có tin rằng người con trai duy nhất còn lại của ông được lệnh đi chiến trường miền Nam chống Mỹ đã bị địch bắt và có thể đã bị thủ tiêu. Cuộc đời viết văn của Nguyễn Công Hoan mở ra sừng sững trước mắt người đọc nhưng không vì thế mà xa lạ, ngược lại nó rất gần gũi, thân thương với chúng ta. Những trang viết, những dòng chữ, những nhân vật, những nỗi lòng sau mỗi lần đọc ta không thể quên; chúng như đang tâm sự, như nói hộ nỗi lòng của cả một thế hệ người trong một giai đoạn khổ đau và hào hùng của dân tộc, như chia sẻ buồn vui, khích lệ họ vượt qua mọi trở ngại để vươn lên. Cuộc đời nhà văn luôn sống mãi trong những trang viết.
Cuộc đời ấy đã chứng minh cho chúng ta thấy rằng: cái đáng tồn tại 19 sẽ được tồn tại, cái qua đi sẽ buộc phải qua đi và những gì còn đọng lại trong trái tim mọi người - cái đó sẽ không bao giờ mất. Cho đến ngày nay, các tác phẩm của Nguyễn Công Hoan đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới như: Liên Xô, Bungari, Hungari, Anbani, Trung Quốc, Tiệp Khắc, Cộng hòa dân chủ Đức, Cuba, Ấn Độ, Pháp, Nhật Bản, Tây Ban Nha. trong đó có nhiều nước đã có những công trình nghiên cứu về ông và tác phẩm của ông. Đặc biệt tên của ông có trong từ điển "Bách khoa toàn thư Liên Xô" mục "Danh nhân thế giới".
Đóng góp của Nguyễn Công Hoan trên phƣơng diện thể loại Thể loại văn học trong tiếng Pháp gọi là genre litte'raire còn tiếng Nga gọi là literaturnyi zhanr. Theo Từ điển thuật ngữ Văn học : "Thể loại văn học trong bản chất phản ánh những khuynh hướng phát triển vững bền, vĩnh hằng của văn học và các thể loại văn học tồn tại để gìn giữ, đổi mới thường xuyên các khuynh hướng ấy. Do đó mà thể loại văn học luôn luôn vừa mới, vừa cũ, vừa biến đổi, vừa ổn định" [tr. Các tác giả "Lí luận văn học" lại dựa vào các yếu tố ổn định mà chia tác phẩm văn học ra thành các loại và các thể (thể loại, thể tài) khác nhau.
Loại rộng hơn thể, thể nằm trong loại. Các nhà nghiên cứu cho rằng không một tác phẩm văn học nào là không nằm trong một loại nhất định nào đó và có một hình thức thể nào đó. Họ cũng cho rằng tác phẩm văn học có ba loại là tự sự, trữ tình và kịch. Mỗi loại trên lại bao gồm các thể khác nhau.
Chẳng hạn như : trong kịch có bi kịch, hài kịch, chính kịch., trong loại tự sự có truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài, ngụ ngôn. "Thể loại là dạng thức tồn tại chỉnh thể của tác phẩm. Cùng một loại nhưng các thể khác nhau rất sâu sắc. Ngoài đặc trưng của loại, các thể còn phân biệt nhau bởi hình thức lời văn (thơ và văn xuôi), dung lượng (truyện dài, truyện ngắn.), loại nội dung cảm hứng (bi kịch, hài kịch, thơ trào phúng, thơ ca ngợi.Li-kha-chốp thể loại văn học "là một phạm trù lịch sử.
Nó chỉ xuất hiện vào một giai đoạn phát triển nhất định của văn học và sau đó biến đổi và được thay thế." 20 Trong giai đoạn từ 1900 - 1945, nền văn học Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trên nhiều lĩnh vực như thể loại, nhân vật, đội ngũ sáng tác. cũng như về nội dung phản ánh, rất nhiều cây bút tài hoa, có phong cách riêng, độc đáo đã xuất hiện như Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng. trong đó chúng ta không thể không nhắc đến sự đóng góp của nhà văn Nguyễn Công Hoan về mặt thể loại. Trong suốt mấy mươi năm cầm bút, ông đã sáng tác với nhiều thể loại khác nhau, từ truyện dài, tiểu thuyết, truyện ngắn đến các tác phẩm viết theo thể khác để rồi khi ra đi ông đã để lại cho nền văn học Việt Nam hiện đại một sự nghiệp văn học đồ sộ với hơn 200 truyện ngắn, gần 30 truyện dài và nhiều bài nghiên cứu, phê bình văn học nghệ thuật cùng với những tập hồi kí, tự sự.
Mặc dù sáng tác với nhiều thể loại khác nhau nhưng Nguyễn Công Hoan lại được các nhà nghiên cứu và độc giả nhận định và đánh giá là người có đóng góp lớn nhất và thành công nhất ở thể truyện ngắn. Vì vậy mà khi đánh giá về vị trí của Nguyễn Công Hoan trong tiến trình lịch sử văn học dân tộc cũng như đánh giá về phong cách của ông chúng ta không thể bỏ qua truyện ngắn, thậm chí còn phải lấy truyện ngắn làm tiêu chí hàng đầu để nhận diện. Đóng góp đầu tiên của Nguyễn Công Hoan cho kho tàng truyện ngắn của dân tộc là về số lượng: hơn 200 truyện ngắn là một con số đồ sộ, hiếm có một nhà văn nào lại có sức sáng tác dẻo dai và lâu bền đến vậy. Nguyễn Công Hoan là người đặt nền móng cho văn học Hiện thực phê phán Việt Nam đầu thế kỉ XX, là người đặt cầu nối cho truyện ngắn cũ và truyện ngắn mới.
Thế giới truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan rất phong phú, đa dạng, đặc biệt là đã phản ánh rất rõ hiện thực cuộc sống và con người Việt Nam những năm trước Cách mạng. Đó là những cảnh xấu xa, bỉ ổi; những chuyện bất công, ngang trái và những con người ghê tởm, đáng khinh bỉ. Truyện ngắn của ông khi mới đọc thì người đọc phải phá lên cười vì sự bất ngờ, thú vị nhưng ngay sau đó lại thấy chua chát, cay đắng. Chính vì vậy mà ngay từ khi tác phẩm đầu tiên của ông ra mắt công chúng là tập truyện "Kép Tư Bền" (1927) đã gây ra một cuộc chấn động trên văn đàn, dẫn đến một cuộc bút chiến gay gắt giữa hai trường phái văn học lớn lúc bấy giờ là Nghệ thuật vị nghệ thuật và Nghệ thuật vị nhân sinh.
21 Truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan có những nét rất gần với truyện cười dân gian. Ông đã tiếp thu, kế thừa được truyền thống lạc quan của nhân dân ta và thể hiện nó trong các tác phẩm của mình thật đặc sắc: đó là dùng tiếng cười như một thứ vũ khí để tống tiễn những cái xấu xa, lạc hậu ra khỏi cuộc sống. Ông đứng lên trên tất cả để mà cười, ông cười ở mọi cung bậc: hả hê, khoái trá, chua chát, chế giễu, khinh bỉ, đau xót, căm giận. Có cái cười ra nước mắt của một tấm lòng ưu ái, nhân hậu, cảm thông.
Nhưng cũng có cái cười chỉ để mà cười của một người vui tính hay vô tâm thậm chí là lạc điệu. Đóng góp của ông trong truyện ngắn chính là ở cái cười phê phán, là xây dựng những nhân vật phản diện. Nguyễn Công Hoan phê phán xã hội nhưng ông khác với Vũ Trọng Phụng ở chỗ là ông không phủ định sạch trơn, trong những tác phẩm của ông vẫn còn le lói một chút ánh sáng toát ra từ lòng tốt của những con người lương thiện (cô giáo Minh, thầy giáo Nhượng. Nếu như truyện ngắn của Thạch Lam tác động chủ yếu đến tình cảm của người đọc, truyện ngắn của Nam Cao đi sâu vào đời sống nội tâm của các nhân vật thì truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan lại nâng cao khả năng nhận thức và khám phá những hiện thực vốn phức tạp của xã hội.
Chế độ Thực dân phong kiến đầy dẫy những mưu mô, toan tính; những giả dối, lố lăng và những kẻ tàn ác, thâm độc nhất là những tên quan lại, những kẻ giàu có lại luôn tỏ ra mình là người nghiêm chỉnh, mở miệng ra là nói đạo đức, nhân nghĩa.