Luận văn Thạc sĩ: nghệ thuật truyện ngắn nguyễn công hoan trước cách mạng

Luận văn phân tích nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Công Hoan giai đoạn trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, đánh giá giá trị văn học và đóng góp.

Chuyên ngành

Văn Học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

105
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan luận văn thạc sĩ nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Công Hoan

Nghiên cứu về văn học Việt Nam 1930 - 1945 không thể bỏ qua di sản đồ sộ của Nguyễn Công Hoan. Ông là người đặt nền móng vững chắc cho dòng văn học hiện thực phê phán. Đề tài luận văn thạc sĩ nghệ thuật truyện ngắn nguyễn công hoan trước cách mạng tháng 8 năm 1945 tập trung giải mã những giá trị nội dung và hình thức độc đáo. Tác giả Nguyễn Công Hoan xuất hiện như một tay đô vật không có địch thủ trên văn đàn thời bấy giờ. Sáng tác của ông trải dài gần 60 năm với hơn 200 truyện ngắn đặc sắc. Luận văn đi sâu vào việc phân tích cách nhà văn phản ánh xã hội thực dân phong kiến đầy rẫy bất công. Qua đó, người đọc thấy rõ quan điểm nghệ thuật vị nhân sinh sâu sắc của ông. Nguyễn Công Hoan không chỉ viết để giải trí mà viết để phơi bày sự thật. Những trang viết của ông là bằng chứng sống động về một thời kỳ lịch sử đau thương nhưng hào hùng. Việc tiếp cận dưới góc độ thi pháp giúp khẳng định vị thế bậc thầy của nhà văn trong tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc. Luận văn này cung cấp cái nhìn hệ thống về các thủ pháp nghệ thuật làm nên tên tuổi Nguyễn Công Hoan.

1.1 Tầm vóc văn học Việt Nam 1930 1945 và Nguyễn Công Hoan

Giai đoạn 1930 - 1945 đánh dấu bước chuyển mình mạnh mẽ của văn xuôi quốc ngữ. Nguyễn Công Hoan nổi lên như một hiện tượng với sức sáng tạo dồi dào. Ông đóng vai trò cầu nối giữa truyện kể truyền thống và truyện ngắn hiện đại. Văn học Việt Nam 1930 - 1945 chứng kiến sự lên ngôi của bút pháp hiện thực. Nguyễn Công Hoan đã sử dụng ngòi bút của mình để tấn công vào các thành trì giáo điều cũ kỹ. Ông vẽ nên bức tranh toàn cảnh về đời sống từ thành thị đến nông thôn.

1.2 Quan điểm nghệ thuật trong sáng tác của bậc thầy trào phúng

Nguyễn Công Hoan kiên trì với quan điểm nghệ thuật vị nhân sinh. Ông cho rằng văn chương phải bám sát hiện thực cuộc sống. Nhà văn tập trung khai thác những nghịch cảnh, những nỗi khổ đau của người dân thấp cổ bé họng. Nghệ thuật trào phúng của ông không tách rời mục đích phê phán xã hội. Ông dùng tiếng cười châm biếm để hạ bệ những kẻ hãnh tiến, tham lam. Sự kết hợp giữa cái cười và cái đau tạo nên sức hấp dẫn riêng biệt.

II. Thách thức phân tích thi pháp truyện ngắn Nguyễn Công Hoan

Phân tích thi pháp truyện ngắn Nguyễn Công Hoan đòi hỏi sự thấu cảm về bối cảnh lịch sử. Nhà văn xây dựng một thế giới nghệ thuật đa dạng với nhiều tầng nấc ý nghĩa. Thách thức lớn nhất nằm ở việc bóc tách các lớp giọng điệu mỉa mai đằng sau những câu chữ giản dị. Xã hội thực dân phong kiến hiện lên trong tác phẩm của ông không chỉ qua lời kể mà qua từng tình huống truyện oái oăm. Người nghiên cứu phải đối mặt với một khối lượng tác phẩm khổng lồ và phong phú. Cách nhà văn tổ chức cấu trúc cốt truyện thường đi ngược lại các quy tắc thông thường. Kết thúc truyện luôn mang tính đột ngột, gây ngỡ ngàng cho độc giả. Việc đánh giá đúng giá trị của tiếng cười châm biếm cũng là một bài toán khó. Có những tiếng cười sảng khoái nhưng cũng có những tiếng cười ra nước mắt. Luận văn cần làm rõ sự khác biệt giữa Nguyễn Công Hoan và các nhà văn cùng thời như Nam Cao hay Thạch Lam. Đây là nhiệm vụ quan trọng để xác lập vị thế riêng biệt của ông trong dòng văn học hiện thực phê phán.

2.1 Sự phức tạp trong cấu trúc cốt truyện và tình huống truyện

Cấu trúc cốt truyện của Nguyễn Công Hoan thường rất ngắn gọn nhưng giàu kịch tính. Ông có biệt tài xây dựng những tình huống truyện độc đáo, đẩy mâu thuẫn lên đỉnh điểm. Nhiều truyện ngắn của ông giống như một màn kịch nhỏ với những nút thắt mở bất ngờ. Sự lắt léo trong cách dẫn dắt khiến người đọc không thể rời mắt. Nhà văn thường giấu kín ý đồ nghệ thuật đến tận những dòng cuối cùng.

2.2 Giải mã xã hội thực dân phong kiến qua lăng kính văn chương

Nguyễn Công Hoan tái hiện xã hội thực dân phong kiến lố lăng, kệch cỡm. Ông tập trung vào sự đối lập giữa vẻ ngoài đạo đức và bản chất đê tiện của tầng lớp thống trị. Tiền bạc trở thành thước đo giá trị, làm tha hóa mọi mối quan hệ tốt đẹp. Các tác phẩm như Kép Tư Bền hay Bước đường cùng là minh chứng rõ nét. Nhà văn không ngần ngại vạch trần những ung nhọt của chế độ đương thời.

III. Bí quyết nghệ thuật trào phúng đặc sắc của Nguyễn Công Hoan

Sức mạnh của Nguyễn Công Hoan nằm ở nghệ thuật trào phúng bậc thầy. Ông không sử dụng những triết lý cao siêu mà dùng chính thực tế đời thường để gây cười. Tiếng cười châm biếm của ông nhắm thẳng vào bọn quan lại tham nhũng và lũ địa chủ ác ôn. Nhà văn khai thác triệt để các mâu thuẫn giữa hình thức và nội dung. Giọng điệu mỉa mai xuyên suốt các tác phẩm, tạo nên một phong cách không lẫn vào đâu được. Ông sử dụng ngôn ngữ trần thuật linh hoạt, gần gũi với lời ăn tiếng nói của nhân dân. Cách so sánh, ví von của ông luôn táo bạo và đầy bất ngờ. Nghệ thuật gây cười của Nguyễn Công Hoan mang đậm tính dân tộc, kế thừa truyền thống truyện cười dân gian. Ông biết cách biến những điều bình thường thành những trò lố bịch. Mỗi câu chữ đều được tính toán để tạo ra hiệu ứng đả kích mạnh mẽ nhất. Sự thành công của nghệ thuật trào phúng đã giúp ông truyền tải thông điệp phê phán một cách sâu sắc. Đây chính là vũ khí sắc bén giúp nhà văn chiến đấu chống lại cái xấu, cái ác trong xã hội cũ.

3.1 Cách xây dựng tiếng cười châm biếm và giọng điệu mỉa mai

Tiếng cười châm biếm trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan có nhiều cung bậc khác nhau. Khi thì hả hê, khoái trá, khi thì chua chát, đắng cay. Giọng điệu mỉa mai giúp nhà văn giữ khoảng cách khách quan để phán xét nhân vật. Ông không trực tiếp kết tội mà để nhân vật tự bộc lộ sự lố bịch qua hành động. Tiếng cười của ông có sức công phá mạnh mẽ vào những thói hư tật xấu.

3.2 Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ trần thuật đầy biến hóa

Ngôn ngữ trần thuật của Nguyễn Công Hoan rất sinh động và giàu hình ảnh. Ông sử dụng nhiều khẩu ngữ, thành ngữ, tục ngữ một cách tự nhiên. Nhịp điệu câu văn nhanh, gọn, trực tiếp theo phong cách hiện đại. Nhà văn có khả năng mô phỏng giọng điệu của nhiều tầng lớp khác nhau trong xã hội. Chính sự biến hóa của ngôn từ đã tạo nên sức sống lâu bền cho tác phẩm.

IV. Phương pháp xây dựng nhân vật điển hình trong truyện ngắn

Nguyễn Công Hoan là chuyên gia trong việc nhào nặn các nhân vật điển hình. Ông thường tập trung vào những nét ngoại hình dị hợm để làm nổi bật bản chất bên trong. Các nhân vật của ông thường được đặt trong những hoàn cảnh thử thách nghiệt ngã. Bút pháp hiện thực giúp nhà văn khắc họa chân thực chân dung các tầng lớp xã hội. Từ những ông quan huyện dâm ô đến những anh phu xe khốn khổ, tất cả đều hiện lên sống động. Nhà văn chú trọng đến hành động và ngôn ngữ đối thoại để nhân vật tự khắc họa mình. Các nhân vật điển hình trong truyện của ông thường mang tính khái quát cao cho một loại người. Sự đối lập giữa các tuyến nhân vật tạo nên xung đột kịch tính. Người đọc dễ dàng nhận ra những gương mặt quen thuộc của xã hội thực dân phong kiến. Nguyễn Công Hoan không đi sâu vào phân tích tâm lý phức tạp như Nam Cao. Ông chọn cách miêu tả trực diện các biểu hiện bên ngoài để phản ánh bản chất. Cách tiếp cận này giúp tác phẩm của ông dễ đi vào lòng quần chúng. Những nhân vật như Kép Tư Bền đã trở thành biểu tượng cho nỗi đau của người nghệ sĩ trong xã hội cũ.

4.1 Nghệ thuật miêu tả ngoại hình và hành động nhân vật

Nguyễn Công Hoan có biệt tài sử dụng những chi tiết ngoại hình để gây ấn tượng mạnh. Ông thường nhấn mạnh vào những nét thừa thãi, kệch cỡm của bọn nhà giàu. Hành động của nhân vật được miêu tả cụ thể, nhanh gọn và đầy ý nghĩa. Qua đó, bản chất tham lam hay độc ác của nhân vật được phơi bày rõ nét. Miêu tả ngoại hình luôn gắn liền với mục đích khắc họa tính cách nhân vật điển hình.

4.2 Phân tích tâm lý nhân vật qua bút pháp hiện thực sắc sảo

Dù không quá sa đà vào nội tâm, bút pháp hiện thực của ông vẫn cho thấy những diễn biến tâm lý logic. Tâm lý nhân vật thường bộc lộ qua những phản ứng tức thời trước nghịch cảnh. Sự dằn vặt giữa lương tâm và miếng ăn được thể hiện khéo léo. Nhà văn cho thấy sự tha hóa của con người dưới áp lực của đồng tiền và quyền lực. Đây là cái nhìn hiện thực tỉnh táo và đầy xót thương.

V. Giá trị thực tiễn từ luận văn thạc sĩ nghệ thuật truyện ngắn

Kết quả nghiên cứu từ luận văn thạc sĩ nghệ thuật truyện ngắn nguyễn công hoan trước cách mạng tháng 8 năm 1945 mang lại nhiều giá trị học thuật. Nó giúp hệ thống hóa các đặc điểm thi pháp của một giai đoạn văn học quan trọng. Các tác phẩm kinh điển như Kép Tư Bền hay Bước đường cùng được soi rọi dưới những góc nhìn mới. Luận văn khẳng định sự đóng góp của Nguyễn Công Hoan trong việc hiện đại hóa thể loại truyện ngắn. Giá trị thực tiễn còn nằm ở việc ứng dụng vào giảng dạy văn học trong nhà trường. Người học sẽ hiểu sâu hơn về nghệ thuật trào phúng và cách sử dụng ngôn ngữ bậc thầy. Những bài học về quan điểm nghệ thuật vị nhân sinh vẫn còn nguyên giá trị đến ngày nay. Nghiên cứu cũng mở ra hướng tiếp cận văn hóa, xã hội qua văn chương hiện thực. Nguyễn Công Hoan đã để lại một bài học lớn về trách nhiệm của người cầm bút trước thời cuộc. Di sản của ông là nguồn cảm hứng cho các thế hệ nhà văn trẻ học tập về kỹ thuật viết. Việc phân tích thi pháp truyện ngắn của ông giúp chúng ta trân trọng hơn những giá trị văn hóa dân tộc.

5.1 Sức sống bền bỉ của Kép Tư Bền và Bước đường cùng

Kép Tư BềnBước đường cùng là những đỉnh cao của văn nghiệp Nguyễn Công Hoan. Tác phẩm phản ánh chân thực nỗi khổ cực và sự bần cùng hóa của nhân dân. Tiếng vang của những tác phẩm này đã vượt qua ranh giới thời gian. Chúng vẫn luôn được bạn đọc yêu mến và các nhà phê bình đánh giá cao. Sức sống đó bắt nguồn từ tấm lòng nhân đạo và tài năng nghệ thuật xuất chúng.

5.2 Ứng dụng thi pháp truyện ngắn trong nghiên cứu hiện đại

Việc nghiên cứu thi pháp truyện ngắn Nguyễn Công Hoan gợi mở nhiều phương pháp luận cho nghiên cứu văn học hiện đại. Nó giúp các nhà khoa học hiểu rõ cơ chế tạo tác văn bản và xây dựng hình tượng. Các thủ pháp trào phúng của ông vẫn là đề tài hấp dẫn cho nhiều công trình nghiên cứu sâu hơn. Sự kết hợp giữa lý thuyết thi pháp và phân tích văn bản mang lại kết quả khách quan.

VI. Kết luận về nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Công Hoan năm 1945

Tóm lại, nghệ thuật truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan trước năm 1945 là một thành tựu rực rỡ. Ông xứng đáng với danh hiệu bậc thầy của dòng văn học hiện thực phê phán. Sự kết hợp hoàn hảo giữa nghệ thuật trào phúng và tinh thần nhân đạo đã tạo nên sức mạnh cho tác phẩm. Nhà văn đã thành công trong việc phơi bày bộ mặt thật của xã hội thực dân phong kiến. Những đóng góp về ngôn ngữ trần thuậtcấu trúc cốt truyện đã thúc đẩy văn xuôi Việt Nam tiến lên hiện đại. Nguyễn Công Hoan không chỉ là người kể chuyện có duyên mà còn là một nhà tư tưởng sắc sảo. Ông đã dùng văn chương để đấu tranh cho công lý và quyền sống của con người. Di sản của ông sẽ mãi là một phần không thể thiếu trong kho tàng văn học dân tộc. Nhìn về tương lai, việc nghiên cứu Nguyễn Công Hoan vẫn còn nhiều dư địa để khai thác. Những giá trị về thi pháp và phong cách nghệ thuật của ông vẫn cần được tiếp tục gìn giữ và phát huy. Ông mãi là tấm gương sáng về lao động nghệ thuật nghiêm túc và bền bỉ cho các thế hệ sau.

6.1 Tổng kết thành tựu văn học hiện thực phê phán đỉnh cao

Nguyễn Công Hoan đã đưa văn học hiện thực phê phán lên một tầm cao mới. Ông tạo ra một thế giới nhân vật đồ sộ và một hệ thống thủ pháp trào phúng đa dạng. Tác phẩm của ông là sự kết tinh của trí tuệ và lòng tâm huyết với dân tộc. Thành tựu của ông là nền tảng cho sự phát triển của văn xuôi cách mạng sau này. Ông thực sự là một tượng đài của văn học hiện đại Việt Nam.

6.2 Định hướng nghiên cứu văn chương Nguyễn Công Hoan tương lai

Trong tương lai, nghiên cứu về Nguyễn Công Hoan có thể mở rộng sang các góc độ liên ngành. Ví dụ như xã hội học văn học hay phê phán sinh thái. Việc so sánh ông với các tác giả trào phúng thế giới cũng là một hướng đi thú vị. Cần có thêm nhiều công trình dịch thuật để giới thiệu di sản của ông ra bạn bè quốc tế. Giá trị nghệ thuật của ông cần được nhìn nhận ở những tầng sâu văn hóa mới.

15/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu. Vào hồi 8 giờ 05 phút ngày 6 tháng 6 năm 1977, trái tim Nguyễn Công Hoan đã ngừng đập. Cuộc đời viết văn của ông bắt đầu từ tuổi 17, đến 20 tuổi ra sách của riêng mình và sáng tác cho đến tận năm 76 tuổi. Từ một cậu bé yêu văn học, thích tạo ra tiếng cười cho những người xung quanh đến một nhà văn trào phúng bậc thầy lỗi lạc.

Như một cái cây kiên cường đứng giữa bão táp: bão táp của dư luận (Nghiên cứu toàn bộ sự nghiệp sáng tác của ông chúng tôi thấy rằng: không phải truyện của ông ngay từ đầu đã được giới quan sát thừa nhận, ngay từ những tập truyện ngắn đầu tiên của ông như "Kép Tư Bền" đã nhận được rất nhiều những ý kiến khen - chê khác nhau từ những nhà phê bình thuộc nhiều trường phái khác nhau. Và cũng không phải truyện ngắn nào của ông cũng được độc giả đón nhận, hiểu đúng ý đồ sáng tác, thậm chí ông 18 còn bị độc giả hiểu nhầm. Khi cuốn "Thanh Đạm" ra đời năm 1942, ông đã bị dư luận cho là "tán dương quan trường" [31, tr.219], lúc đó ông đã rất "hậm hực, buồn bã hết sức, đâm ra chán nản với nghề" [tr.220] và mãi đến tận hơn mười năm sau ông mới tự mình thanh minh được) và bão táp của cường quyền (truyện của ông luôn bị kiểm duyệt gắt gao, mấy lần bị chính quyền Thực dân gọi ra tòa và cũng đã phải ngồi tù trong một thời gian khá dài). Mặc dù liên tiếp gặp bão táp nhưng ông không hề nản chí, vẫn luôn giữ trong mình một niềm tin để tiếp tục tạo ra những tác phẩm xuất sắc.

Cả cuộc đời 57 năm cầm bút của ông đã gắn liền với số phận của dân tộc, gắn bó với cách mạng. Và cũng có thể khẳng định rằng ở thế hệ ông, ít có nhà văn nào lại phải trải qua những cảnh đời như ông đã từng thử thách và gánh chịu. Trước Cách mạng Tháng 8, ông và gia đình luôn luôn phải sống trong sự theo dõi của bọn mật thám, rồi những vụ khám xét và bắt bớ, kết tội của chính quyền Thực dân đã khiến cho gia đình ông tan tác. Ông thường xuyên phải tận mắt chứng kiến cảnh người thân của mình bị tra tấn, tù đầy.

Niềm đau xót của ông lên đến tận cùng khi nhận được tin người con trai cả đã hi sinh (trong kháng chiến chống Thực dân Pháp) khi anh mới ở độ tuổi 20. Đó là người con mà ông yêu quý nhất, người con giống ông từ dáng hình đến tính cách con người, người con thông minh và đầy tài năng. Không chỉ chứng kiến một người con ngã xuống mà cứ sáu tháng một lần trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp, những người ruột thịt trong gia đình ông theo nhau hi sinh. Kháng chiến chín năm gia đình ông đã hiến dâng cho Tổ quốc sáu người.

Nỗi đau đã không ngừng đến với ông và rồi không còn gì đau đớn hơn khi có tin rằng người con trai duy nhất còn lại của ông được lệnh đi chiến trường miền Nam chống Mỹ đã bị địch bắt và có thể đã bị thủ tiêu. Cuộc đời viết văn của Nguyễn Công Hoan mở ra sừng sững trước mắt người đọc nhưng không vì thế mà xa lạ, ngược lại nó rất gần gũi, thân thương với chúng ta. Những trang viết, những dòng chữ, những nhân vật, những nỗi lòng sau mỗi lần đọc ta không thể quên; chúng như đang tâm sự, như nói hộ nỗi lòng của cả một thế hệ người trong một giai đoạn khổ đau và hào hùng của dân tộc, như chia sẻ buồn vui, khích lệ họ vượt qua mọi trở ngại để vươn lên. Cuộc đời nhà văn luôn sống mãi trong những trang viết.

Cuộc đời ấy đã chứng minh cho chúng ta thấy rằng: cái đáng tồn tại 19 sẽ được tồn tại, cái qua đi sẽ buộc phải qua đi và những gì còn đọng lại trong trái tim mọi người - cái đó sẽ không bao giờ mất. Cho đến ngày nay, các tác phẩm của Nguyễn Công Hoan đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới như: Liên Xô, Bungari, Hungari, Anbani, Trung Quốc, Tiệp Khắc, Cộng hòa dân chủ Đức, Cuba, Ấn Độ, Pháp, Nhật Bản, Tây Ban Nha. trong đó có nhiều nước đã có những công trình nghiên cứu về ông và tác phẩm của ông. Đặc biệt tên của ông có trong từ điển "Bách khoa toàn thư Liên Xô" mục "Danh nhân thế giới".

Đóng góp của Nguyễn Công Hoan trên phƣơng diện thể loại Thể loại văn học trong tiếng Pháp gọi là genre litte'raire còn tiếng Nga gọi là literaturnyi zhanr. Theo Từ điển thuật ngữ Văn học : "Thể loại văn học trong bản chất phản ánh những khuynh hướng phát triển vững bền, vĩnh hằng của văn học và các thể loại văn học tồn tại để gìn giữ, đổi mới thường xuyên các khuynh hướng ấy. Do đó mà thể loại văn học luôn luôn vừa mới, vừa cũ, vừa biến đổi, vừa ổn định" [tr. Các tác giả "Lí luận văn học" lại dựa vào các yếu tố ổn định mà chia tác phẩm văn học ra thành các loại và các thể (thể loại, thể tài) khác nhau.

Loại rộng hơn thể, thể nằm trong loại. Các nhà nghiên cứu cho rằng không một tác phẩm văn học nào là không nằm trong một loại nhất định nào đó và có một hình thức thể nào đó. Họ cũng cho rằng tác phẩm văn học có ba loại là tự sự, trữ tình và kịch. Mỗi loại trên lại bao gồm các thể khác nhau.

Chẳng hạn như : trong kịch có bi kịch, hài kịch, chính kịch., trong loại tự sự có truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài, ngụ ngôn. "Thể loại là dạng thức tồn tại chỉnh thể của tác phẩm. Cùng một loại nhưng các thể khác nhau rất sâu sắc. Ngoài đặc trưng của loại, các thể còn phân biệt nhau bởi hình thức lời văn (thơ và văn xuôi), dung lượng (truyện dài, truyện ngắn.), loại nội dung cảm hứng (bi kịch, hài kịch, thơ trào phúng, thơ ca ngợi.Li-kha-chốp thể loại văn học "là một phạm trù lịch sử.

Nó chỉ xuất hiện vào một giai đoạn phát triển nhất định của văn học và sau đó biến đổi và được thay thế." 20 Trong giai đoạn từ 1900 - 1945, nền văn học Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trên nhiều lĩnh vực như thể loại, nhân vật, đội ngũ sáng tác. cũng như về nội dung phản ánh, rất nhiều cây bút tài hoa, có phong cách riêng, độc đáo đã xuất hiện như Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng. trong đó chúng ta không thể không nhắc đến sự đóng góp của nhà văn Nguyễn Công Hoan về mặt thể loại. Trong suốt mấy mươi năm cầm bút, ông đã sáng tác với nhiều thể loại khác nhau, từ truyện dài, tiểu thuyết, truyện ngắn đến các tác phẩm viết theo thể khác để rồi khi ra đi ông đã để lại cho nền văn học Việt Nam hiện đại một sự nghiệp văn học đồ sộ với hơn 200 truyện ngắn, gần 30 truyện dài và nhiều bài nghiên cứu, phê bình văn học nghệ thuật cùng với những tập hồi kí, tự sự.

Mặc dù sáng tác với nhiều thể loại khác nhau nhưng Nguyễn Công Hoan lại được các nhà nghiên cứu và độc giả nhận định và đánh giá là người có đóng góp lớn nhất và thành công nhất ở thể truyện ngắn. Vì vậy mà khi đánh giá về vị trí của Nguyễn Công Hoan trong tiến trình lịch sử văn học dân tộc cũng như đánh giá về phong cách của ông chúng ta không thể bỏ qua truyện ngắn, thậm chí còn phải lấy truyện ngắn làm tiêu chí hàng đầu để nhận diện. Đóng góp đầu tiên của Nguyễn Công Hoan cho kho tàng truyện ngắn của dân tộc là về số lượng: hơn 200 truyện ngắn là một con số đồ sộ, hiếm có một nhà văn nào lại có sức sáng tác dẻo dai và lâu bền đến vậy. Nguyễn Công Hoan là người đặt nền móng cho văn học Hiện thực phê phán Việt Nam đầu thế kỉ XX, là người đặt cầu nối cho truyện ngắn cũ và truyện ngắn mới.

Thế giới truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan rất phong phú, đa dạng, đặc biệt là đã phản ánh rất rõ hiện thực cuộc sống và con người Việt Nam những năm trước Cách mạng. Đó là những cảnh xấu xa, bỉ ổi; những chuyện bất công, ngang trái và những con người ghê tởm, đáng khinh bỉ. Truyện ngắn của ông khi mới đọc thì người đọc phải phá lên cười vì sự bất ngờ, thú vị nhưng ngay sau đó lại thấy chua chát, cay đắng. Chính vì vậy mà ngay từ khi tác phẩm đầu tiên của ông ra mắt công chúng là tập truyện "Kép Tư Bền" (1927) đã gây ra một cuộc chấn động trên văn đàn, dẫn đến một cuộc bút chiến gay gắt giữa hai trường phái văn học lớn lúc bấy giờ là Nghệ thuật vị nghệ thuật và Nghệ thuật vị nhân sinh.

21 Truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan có những nét rất gần với truyện cười dân gian. Ông đã tiếp thu, kế thừa được truyền thống lạc quan của nhân dân ta và thể hiện nó trong các tác phẩm của mình thật đặc sắc: đó là dùng tiếng cười như một thứ vũ khí để tống tiễn những cái xấu xa, lạc hậu ra khỏi cuộc sống. Ông đứng lên trên tất cả để mà cười, ông cười ở mọi cung bậc: hả hê, khoái trá, chua chát, chế giễu, khinh bỉ, đau xót, căm giận. Có cái cười ra nước mắt của một tấm lòng ưu ái, nhân hậu, cảm thông.

Nhưng cũng có cái cười chỉ để mà cười của một người vui tính hay vô tâm thậm chí là lạc điệu. Đóng góp của ông trong truyện ngắn chính là ở cái cười phê phán, là xây dựng những nhân vật phản diện. Nguyễn Công Hoan phê phán xã hội nhưng ông khác với Vũ Trọng Phụng ở chỗ là ông không phủ định sạch trơn, trong những tác phẩm của ông vẫn còn le lói một chút ánh sáng toát ra từ lòng tốt của những con người lương thiện (cô giáo Minh, thầy giáo Nhượng. Nếu như truyện ngắn của Thạch Lam tác động chủ yếu đến tình cảm của người đọc, truyện ngắn của Nam Cao đi sâu vào đời sống nội tâm của các nhân vật thì truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan lại nâng cao khả năng nhận thức và khám phá những hiện thực vốn phức tạp của xã hội.

Chế độ Thực dân phong kiến đầy dẫy những mưu mô, toan tính; những giả dối, lố lăng và những kẻ tàn ác, thâm độc nhất là những tên quan lại, những kẻ giàu có lại luôn tỏ ra mình là người nghiêm chỉnh, mở miệng ra là nói đạo đức, nhân nghĩa.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ