CHƯƠNG I LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Vốn trong hoạt động của doanh nghiệp 1.1 Hoạt động cơ bản của doanh nghiệp Luật doanh nghiệp năm 2005 có quy định: “ Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản , có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Thực tế phát triển kinh tế ở các nước trên thế giới và Việt Nam cho thấy rằng: đối với tất cả các loại hình doanh nghiệp muốn sản xuất, kinh doanh có hiệu quả thì đều phải giải quyết được ba vấn đề kinh tế cơ bản là: - Sản xuất kinh doanh cái gì ? - Sản xuất, kinh doanh như thế nào? - Sản xuất, kinh doanh cho ai ? Quyết định sản xuất, kinh doanh cái gì đòi hỏi doanh nghiệp phải tiến hành nghiên cứu thị trường. Nhu cầu của thị trường về hàng hoá và dịch vụ rất phong phú, đa dạng và ngày một tăng về số lượng cũng như chất lượng. Nhưng thực tế nhu cầu có khả năng thanh toán lại thấp hơn, cho nên muốn thoả mãn nhu cầu lớn trong khi khả năng thanh toán có hạn, người tiêu dùng phải lựa chọn từng loại nhu cầu có lợi nhất cho họ ở từng thời điểm nhất định.
Tổng nhu cầu có khả năng thanh toán của xã hội chính là căn cứ để các nhà kinh doanh quyết định việc đầu tư vào sản xuất, kinh doanh của mình. Mặt khác, do sự giới hạn của của khả năng sản xuất nên khi doanh nghiệp đưa ra một quyết định đầu tư nào đó thì luôn phải chịu một chi phí cơ 12 hội nhất định. Nghĩa là khi doanh nghiệp quyết định sản xuất, kinh doanh một loại sản phẩm, dịch vụ nào đó thì sẽ có một sản phẩm, dịch vụ khác bị bỏ qua. Việc lựa chọn, xác định được sản phẩm, dịch vụ để sản xuất, kinh doanh phù hợp với nhu cầu của thị trường và năng lực của doanh nghiệp sẽ giúp doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, ngược lại nếu xác định sai thì hậu quả mà doanh nghiệp phải gánh chịu sẽ là rất lớn.
Sản xuất, kinh doanh như thế nào? Quyết định sản xuất như thế nào nghĩa là do ai thực hiện và những nguồn lực, hình thức công nghệ và phương pháp sản xuất kinh doanh nào sẽ được sử dụng. Sau khi đã lựa chọn được sản xuất, kinh doanh cái gì, doanh nghiệp phải xem xét và lựa việc sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ đó như thế nào để đáp ứng tốt nhất nhu cầu của thị trường, với chi phí ít nhất, giành thắng lợi trong cạnh tranh nhằm thu được lợi nhuận cao nhất. Sản xuất cho ai? Quyết định sản xuất cho ai đòi hỏi phải xác định rõ ai sẽ được hưởng và được lợi từ những hàng hoá, dịch vụ. Thị trường quyết định giá cả của các yếu tố sản xuất do đó cũng quyết định thu nhập của các hàng hoá, dịch vụ.
Thu nhập của cá nhân hay tập thể phụ thuộc vào quyền sở hữu và giá trị của các yếu tố sản xuất, phụ thuộc vào lượng hàng hoá, dịch vụ và giá cả của chúng. Về nguyên tắc thì cần đảm bảo cho mọi người lao động được hưởng và được lợi từ những hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp đã tiêu thụ căn cứ vào những cống hiến của họ đối với quá trình sản xuất, kinh doanh hàng hoá dịch vụ ấy.2 Vốn trong hoạt động của doanh nghiệp 1.1 Khái niệm và đặc trưng của vốn Trong cơ chế thị trường, hoạt động của các doanh nghiệp đều nhằm mục tiêu tối đa hoá giá trị tài sản của chủ sở hữu. Bất kì một doanh nghiệp nào 13 muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh đều cần có một lượng vốn tiền tệ nhất định. Doanh nghiệp sử dụng lượng vốn tiền tệ này để mua sắm các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất như: sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động; kết hợp ba yếu tố đó để tạo ra đầu ra là các sản phẩm hàng hoá, hoặc dịch vụ có ích và tiêu thụ hàng hoá để thu lợi nhuận.
Lượng vốn tiền tệ ứng ra đó được gọi là vốn của doanh nghiệp. Vốn không chỉ là điều kiện tiên quyết và sống còn đối với sự ra đời của doanh nghiệp mà nó còn là một trong những yếu tố giữ vai trò quyết định trong quá trình hoạt động và phát triển của doanh nghiệp hiện nay. Do đó, chúng ta cần phải có nhận thức đúng đắn về vốn và vai trò của nó đối với quá trình sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp. Về mặt khái niệm, vốn có thể được hiểu như sau: “ Vốn của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản được huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời”.
Vốn có các đặc trưng cơ bản sau: Thứ nhất, vốn được biểu hiện bằng một lượng tài sản có thực Đây là đặc trưng rất cơ bản của vốn kinh doanh - vốn là một lượng tiền tệ đại diện cho một lượng hàng hoá nhất định, một tài sản có thực. Nói cách khác, vốn là biểu hiện bằng giá trị của các tài sản trong doanh nghiệp. Thứ hai, vốn phải được tích tụ, tập trung thành một lượng nhất định, đủ sức đầu tư vào một phương án kinh doanh Rõ ràng, việc huy động vốn của doanh nghiệp cần đạt tới một giới hạn nhất định nào đó thì mới đủ sức phát huy tác dụng, cũng như đáp ứng được yêu cần của phương án đầu tư. Do đó để đầu tư vào sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp không chỉ khai thác các tiềm năng về vốn mà còn phải tìm mọi cách để thu hút vốn.
14 Thứ ba, vốn phải vận động sinh lời Đặc trưng này của vốn xuất phát từ nguyên tắc: tiền tệ chỉ được coi là vốn khi chúng được đưa vào sản xuất kinh doanh, chúng vận động biến đổi hình thái biểu hiện nhưng điểm khởi đầu và điểm kết thúc của vòng tuần hoàn phải là tiền, lượng tiền thu về phải lớn hơn lượng tiền bỏ ra - tức là kinh doanh phải có lãi. Thứ tư, vốn có giá trị về mặt thời gian Điều này có nghĩa là một đồng vốn ở thời điểm này có giá trị khác với giá trị của một đồng vốn ở thời điểm khác. Nguyên nhân của điều này là do các nhân tố như: giá cả thị trường, lạm phát, khủng hoảng… Do đó, việc huy động và sử dụng vốn kịp thời là hết sức quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp. Thứ năm, vốn gắn liền với chủ sở hữu Trong nền kinh tế thị trường, vốn luôn phải gắn liền với chủ sở hữu.
Đồng vốn vô chủ sẽ dẫn đến việc sử dụng vốn lăng phí, kém hiệu quả. Ngược lại, những đồng vốn gắn liền với chủ sở hữu, gắn với lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu thì được sử dụng đúng mục đích, sử dụng tiết kiệm có hiệu quả và sinh lời. Thứ sáu, vốn được coi như một loại hàng hoá đặc biệt Những người có vốn nhàn rỗi sẽ đưa vốn vào thị trường, còn những người cần vốn sẽ tìm đến nguồn vốn đó để mua “Quyền sử dụng vốn” và trả cho người bán một lượng tiền tệ nhất định đuợc gọi là “chi phí sử dụng vốn”. Như vậy, khác với các hàng óa thông thường , vốn khi “ bán ra” sẽ không bị mất đi quyền sở hữu mà chỉ mất đi quyền sử dụng, người mua được quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định.
Đây là đặc trưng quan trọng giúp cho 15 các doanh nghiệp có phương thức huy động vốn linh hoạt trong nền kinh tế thị trường. Thứ bảy, vốn bao gồm cả giá trị của tài sản vô hình Giá trị thực của một doanh nghiệp không chỉ là phép cộng giản đơn số vốn cố định và vốn lưu động hiện có, mà còn tính đến giá trị của một số tài sản có khả năng sinh lời như: vị trí địa lý, uy tín, thương hiệu, công nghệ sản xuất, bằng phát minh sáng chế. Chúng được gọi là tài sản vô hình của doanh nghiệp.2 Phân loại vốn Có rất nhiều tiêu thức để phân loại vốn kinh doanh nhưng để thuận lợi cho quá trình quản lý và sử dụng vốn, người ta căn cứ vào đặc điểm chu chuyển của vốn khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh. Theo đó, vốn được chia thành hai loại: vốn cố định và vốn lưu động.1 Vốn cố định (VCĐ) Trong nền kinh tế thị trường, để có được các tài sản cố định (TSCĐ) cần thiết cho hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp cần phải đầu tư ứng ra một lượng vốn tiền tệ nhất định.
Số vốn mà doanh nghiệp ứng ra hình thành TSCĐ được gọi là VCĐ của doanh nghiệp. “VCĐ của doanh nghiệp là bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về TSCĐ. Đặc điểm của nó là luân chuyển giá trị dần dần từng phần trong nhiều chu kỳ kinh doanh và hoàn thành một vòng chu chuyển khi tái sản xuất được TSCĐ về mặt giá trị” Như vậy VCĐ và TSCĐ có mối quan hệ mật thiết với nhau. VCĐ là biểu hiện về mặt giá trị của TSCĐ, còn TSCĐ là biểu hiện về mặt vật chất của VCĐ.
Do đó, chúng không thể tách rời nhau mà nằm trong một thể thống nhất 16 chi phối lẫn nhau: quy mô VCĐ sẽ quyết định quy mô TSCĐ; ngược lại đặc điểm TSCĐ lại chi phối đặc điểm tuần hoàn và chu chuyển của VCĐ. * Đặc điểm luân chuyển VCĐ Là số vốn đầu tư ứng trước để mua sắm, xây dựng các TSCĐ nên quy mô của VCĐ nhiều hay ít sẽ quyết định đến quy mô TSCĐ, ảnh hưởng rất lớn đến trình độ trang bị kỹ thuật và công nghệ, năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Song ngược lại, những đặc diểm kinh tế của TSCĐ trong quá trình sử dụng lại có những ảnh hưởng quyết định, chi phối đặc điểm tuần hoàn và chu chuyển của VCĐ. Có thể khái quát những nét đặc thù về sự vận động của VCĐ trong quá trình sản xuất kinh doanh như sau: Thứ nhất, VCĐ tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh.
Điều này do đặc điểm của TSCĐ là thời gian sử dụng lâu dài và tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh. Thứ hai, VCĐ luân chuyển dần dần từng phần vào giá trị sản phẩm trong các chu kỳ sản xuất kinh doanh. Khi tham gia cào quá trình sản xuất, một bộ phận VCĐ được luân chuyển và cấu thành chi phí sản xuất sản phẩm (dưới hình thức chi phí khấu hao) tương ứng với phần giá trị hao mòn của TSCĐ.