Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KẾT HÔN GIỮA CÔNG DÂN VIỆT NAM VỚI NGƯỜI NƯỚC NGOÀI 1. Khái niệm kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài 1. Kết hôn có yếu tố nước ngoài 1. Khái niệm kết hôn Hôn nhân là cơ sở hình thành gia đình, gia đình là tế bào của xã hội.
Trong mỗi chế độ xã hội, gia đình đều thực hiện những chức năng cơ bản mang tính chất xã hội của nó. Một trong những chức năng cơ bản của gia đình là sinh sản nhằm tái sản xuất ra con người, là quá trình tiếp tục nòi giống. Đó là một quá trình cần thiết của cuộc sống trong một xã hội nhất định. Quá trình này được thể hiện ở chỗ "hàng ngày tái tạo ra đời sống của bản thân mình, con người bắt đầu tạo ra những con người khác, sinh sôi, nảy nở - đó là quan hệ giữa chồng và vợ, giữa cha mẹ và con cái - đó là gia đình" [1].
Nếu không có sản xuất và tái sản xuất ra con người thì xã hội không thể phát triển, thậm chí không thể tồn tại được. Như vậy, gia đình là một trong những thể chế cơ bản của xã hội. Gia đình được ra đời, tồn tại và phát triển trước hết là nhờ nhà nước thừa nhận hôn nhân của đôi nam nữ, đồng thời nhà nước quy định quyền và nghĩa vụ pháp lý cho vợ và chồng. Hôn nhân là sự liên kết đặc biệt giữa một người nam và một người nữ, sự liên kết đó phải được nhà nước thừa nhận bằng sự phê chuẩn dưới hình thức pháp lý - đăng ký kết hôn.
Như vậy, đăng ký kết hôn đã làm xác lập quan hệ hôn nhân và là cơ sở để hình thành gia đình. Trong xã hội có giai cấp, quan hệ hôn nhân bị chi phối bởi ý chí của giai cấp thống trị. Thông qua nhà nước và bằng pháp luật, giai cấp thống trị tác động vào các quan hệ hôn nhân và gia đình làm cho các quan hệ này phát sinh, thay đổi hay chấm dứt phù hợp với lợi ích của giai cấp đó. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hôn nhân là cơ sở của gia đình và gia đình là tế bào của xã hội.
"Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt" [33]. Vì vậy, nhà nước ta luôn quan tâm củng cố chế độ hôn nhân và đề ra những biện pháp nhằm ổn định quan hệ này, "nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình…" [34]. Tại khoản 2 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã đưa ra khái niệm về kết hôn, theo đó: "Kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn" [33]. Theo quy định trên, kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về kết hôn và đăng ký kết hôn.
Kết hôn chính là sự thừa nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quan hệ vợ chồng của hai người khác giới, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa họ đối với nhau. Hệ thống pháp luật của nước ta quy định, việc kết hôn phải đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Khi yêu cầu đăng ký kết hôn, hai bên nam nữ phải có mặt tại cơ quan đăng ký kết hôn, nộp tờ khai đăng ký kết hôn và những giấy tờ cần thiết khác. Trong trường hợp có lý do chính đáng, một trong hai bên kết hôn không thể đến nộp hồ sơ đăng ký kết hôn thì có thể gửi cho cơ quan đăng ký kết hôn đơn xin nộp hồ sơ tạm vắng mặt, trong đơn phải nêu rõ lý do vắng mặt và phải có sự xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp cơ sở nơi người vắng mặt cư trú.
Pháp luật hôn nhân và gia đình quy định: nam, nữ kết hôn phải đảm bảo hai yếu tố: Thứ nhất, việc kết hôn phải thể hiện ý chí của cả nam và nữ là mong muốn được kết hôn với nhau. Như vậy, trước hết kết hôn là một quyền gắn liền nhân thân của mỗi bên nam nữ. Quyền kết hôn xuất phát từ tình cảm yêu thương giữa nam và nữ. Bởi vậy, đó là quyền tự do của mỗi cá nhân và được pháp luật bảo vệ, điều này được thể hiện tại Điều 39 Bộ luật dân sự năm 2005, theo đó: "nam, nữ có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình có quyền tự do kết hôn" [35] và khoản 2 Điều 9 Luật Hôn nhân và 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com gia đình: "việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào; không ai được cưỡng ép, cản trở" [33].
Do vậy, sự tự nguyện của nam và nữ trong việc kết hôn vừa là điều kiện đảm bảo cho hôn nhân có giá trị pháp lý và đồng thời cũng là cơ sở để xây dựng gia đình bền vững. Đối với những trường hợp khi tiến hành đăng ký kết hôn có sự lừa dối, cưỡng ép để được kết hôn hoặc kết hôn giả tạo thì nhà nước không thừa nhận việc kết hôn đó là hợp pháp. Thứ hai, việc kết hôn phải được nhà nước thừa nhận. Theo quy định tại Điều 64 Hiến pháp 1992 thì: "Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình" [34].
Hôn nhân chỉ được nhà nước thừa nhận khi việc xác lập quan hệ hôn nhân tuân thủ các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn. Đó là điều kiện về tuổi kết hôn; điều kiện về sự tự nguyện và một số điều kiện về nhân thân khác (các trường hợp cấm kết hôn) được quy định tại Điều 9; Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và việc kết hôn phải được đăng ký theo đúng quy định của pháp luật. Đáp ứng đủ những điều kiện trên, cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ tiến hành đăng ký việc kết hôn và ghi vào sổ kết hôn. Khi đó giữa các bên nam, nữ sẽ phát sinh quan hệ hôn nhân.
Như vậy, muốn được kết hôn với nhau, nam nữ phải tuân thủ các điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn. Có thể thấy rằng, pháp luật của nhà nước ta quy định các điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn phần nào đã thể hiện tính khoa học và phù hợp với điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, đồng thời cũng phù hợp với tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, thông qua việc đăng ký kết hôn, nhà nước đã công nhận hôn nhân của đôi nam, nữ. Ở đây, sự kiện kết hôn là cơ sở pháp lý ghi nhận rằng, hai bên nam nữ đã phát sinh quyền và nghĩa vụ vợ chồng. Sự kiện này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định chủ thể của các quan hệ trong gia đình như quan hệ giữa vợ và chồng, quan hệ giữa cha mẹ và con cái, đồng thời xác định rõ thời điểm xác lập các quan hệ đó.
12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Kết hôn có yếu tố nước ngoài Luật hôn nhân và gia đình hiện hành cũng như các văn bản hướng dẫn chưa có quy định cụ thể về khái niệm kết hôn có yếu tố nước ngoài mà chỉ ghi nhận khái niệm về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Theo đó, tại khoản 14 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 ghi nhận: Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình: a) Giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài; b) Giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam; c) Giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài [33]. Ngoài ra, tại khoản 4 Điều 100 Luật Hôn nhân và gia đình còn quy định: "Các quy định của Chương này cũng được áp dụng đối với quan hệ hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên hoặc cả hai bên định ở nước ngoài" [33].
Việc nhận diện đúng "yếu tố nước ngoài" trong quan hệ hôn nhân và gia đình là hết sức cần thiết. Nhiều trường hợp không xác định đúng "yếu tố nước ngoài" nên gây không ít khó khăn cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc giải quyết các vấn đề phát sinh từ quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Khoản 14 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã đưa ra tiêu chí để xác định "yếu tố nước ngoài" trong quan hệ hôn nhân và gia đình. Điều này đã khẳng định sự phát triển về lý luận của pháp luật Việt Nam trong việc điều chỉnh các vấn đề có liên quan đến hôn nhân và gia đình.
Từ những phân tích trên, quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài có thể hiểu là các quan hệ hôn nhân và gia đình sau: 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Có ít nhất một bên chủ thể là người nước ngoài - Giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài. - Quan hệ giữa công dân Việt Nam với nhau mà tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài. Kết hôn có yếu tố nước ngoài là một trường hợp cụ thể của quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Do vậy, căn cứ vào khái niệm quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, ta có thể đưa ra khái niệm về kết hôn có yếu tố nước ngoài như sau: Kết hôn có yếu tố nước ngoài là việc nam, nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn, trong đó có ít nhất một bên chủ thể là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc việc kết hôn được xác lập ở nước ngoài và theo pháp luật nước ngoài.
Như vậy, theo khái niệm trên thì các trường hợp kết hôn có yếu tố nước ngoài bao gồm: - Kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài; - Kết hôn giữa người nước ngoài với nhau mà một trong các bên thường trú tại Việt Nam; - Kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau mà một hoặc cả hai bên định cư ở nước ngoài hoặc sự kiện kết hôn được tiến hành ở nước ngoài theo pháp luật nước ngoài 1. Kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài 1.