ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam được đánh giá là một quốc gia có nguồn đa dạng sinh học về các giống vật nuôi bản địa, trong đó có các giống gà nổi tiếng trong và ngoài nước như gà Ri, gà Hồ, gà Đông Tảo, gà Ác, gà H’Mông… Trải qua hàng nghìn năm dưới tác động của chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo, các giống gà trên đã có được những gen quý, thích nghi tốt với điều kiện khí hậu của nước ta, thịt rất thơm ngon. Tuy nhiên, các giống gà này thường có khả năng sinh trưởng, sinh sản kém. Trong những năm gần đây, để đáp ứng nhu cầu về số lượng thực phẩm cho xã hội, chúng ta đã nhập khẩu và lai tạo nhiều giống gà công nghiệp có năng suất cao. Số lượng các trang trại cũng như quy mô chăn nuôi không ngừng tăng cao qua các năm.
Điều đó dẫn đến tình trạng một số giống gà bản địa có năng suất thấp đã bị thu hẹp và có nguy cơ bị tuyệt chủng. Để phát huy được tiềm năng vốn có của các giống bản địa đồng thời duy trì và phát triển các giống này từ cuối những năm 80, với sáng kiến của Bộ Khoa học - Công nghệ và Môi trường, cùng với sự tham gia của Viện Chăn nuôi, đề án bảo tồn nguồn gen vật nuôi đã được chấp nhận và tiến hành trên diện rộng. Công tác bảo tồn và phát triển các giống vật nuôi này ngày càng được nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều địa phương đặc biệt quan tâm. Gà Hồ là một trong những giống vật nuôi có ý nghĩa quan trọng đối với nền văn hóa dân gian của người Việt nói chung và của người làng Hồ nói riêng.
Đây là một giống gà rất đẹp và quý ở nước ta, có nhiều tính trạng tốt nhưng có nhược điểm lớn là khả năng sinh trưởng, sinh sản thấp. Đến nay số lượng gà Hồ đang suy giảm nghiêm trọng có nguy cơ tuyệt chủng. Vì vậy, chúng ta cần nghiên cứu các biện pháp gìn giữ, bảo tồn và phát triển giống gà Hồ. Việc làm này không chỉ là bảo tồn một giống gen quý của quốc gia mà còn là gìn giữ một biểu tượng của quê hương.
Để làm được điều đó, cần đến sự vào cuộc của các nhà khoa học, nhà quản lý và chính quyền địa phương. Xuất phát từ vấn đề đó chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Một số đặc điểm ngoại hình, sinh trưởng và sinh sản của gà Hồ nuôi trong nông hộ tại huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh”. MỤC ĐÍCH VÀ Ý NGHĨA 1. Mục đích của đề tài - Đánh giá được tình hình chăn nuôi, cơ cấu đàn gà Hồ tại Thuận Thành, Bắc Ninh.
- Mô tả được đặc điểm ngoại hình, kích thước các chiều đo cơ thể của giống gà Hồ. - Đánh giá được khả năng sinh trưởng, sinh sản của giống gà Hồ. Ý nghĩa của đề tài - Nghiên cứu đánh giá một số đặc điểm ngoại hình, khả năng sản xuất của giống gà Hồ làm tài liệu phục vụ cho công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 2. Phân loại động vật và nguồn gốc của đối tượng nghiên cứu 2. Phân loại động vật Đã có nhiều nghiên cứu về loài gà và những nghiên cứu này đã đưa ra được thông tin phân loại động vật đối với gà. Trong phân loại học, gà thuộc lớp chim (Aves), bộ gà (Galliformes), họ trĩ (Fasianidea), giống gà (Gallus), loài gà nuôi (Gallus gallus domestica).
Cụ thể gà thuộc: Giới (kinhdom) Animal Động vật Ngành (phylum) Chordata Có xương sống Lớp (class) Aves Chim Bộ (oder) Galliformes Gà Họ (family) Phasianidae Trĩ Chủng (genus) Banquiva Gallus Loài (species) Gallus gallus Gà nhà Nguồn: Nguyễn Văn Thiện (1995) 2. Nguồn gốc và sự thuần hóa của gà nhà Các giống gà hiện nay được hình thành nên từ quá trình lai tạo, tiến hoá lâu dài và phức tạp.Theo Neumeiste H (1978) sự thuần hoá gà đầu tiên diễn ra vào thời kỳ đồ Đồng ở các thung lũng thuộc vùng sông Ấn. Trong các tượng đài kỷ niệm nền văn hoá cổ Ấn Độ (3000 năm trước Công Nguyên), người ta thấy có nhiều tác phẩm nghệ thuật tạo hình mô tả về gà ở vùng Harappa, thuộc miền bắc Ấn Độ. Có nhiều giả thuyết cho rằng gà nhà được thuần hoá đầu tiên từ Ấn Độ cách đây hơn 5.000 năm, ở Trung Quốc cách đây hơn 3.
Sau đó xuất hiện ở Ba Tư rồi đến Mesopotami. Ở Tây Âu gà nhà xuất hiện cách đây gần 2. Ở Việt Nam đã có những nghiên cứu về nguồn gốc và sự thuần hóa gà nhà, các công trình nghiên cứu này đã đưa ra những kết luận có thể nói rằng nước ta là một trong những trung tâm thuần hoá gà đầu tiên của vùng Đông Nam Á. Gà nhà ở nước ta bắt nguồn từ gà rừng Gallus Banquiva.
Gà được nuôi sớm nhất ở vùng Hà Bắc, Vĩnh Phú, Hà Tây…cách đây hơn 3000 năm (Nguyễn Mạnh Hùng và 3 c cs. Bên cạnh đó cũng có những nghiên cứu chỉ ra rằng gà nhà ở nước ta có nguồn gốc từ gà rừng Gallus Banquiva. Chúng được thuần hoá sớm nhất ở Phú Thọ, Bắc Giang, Sơn Tây. Cách đây khoảng 3000 năm từ giống gà hoang ban đầu, trải qua thời gian dài thuần hóa, nuôi dưỡng và lai tạo nhân dân ta đã tạo ra được nhiều giống gà khác nhau như gà Chọi, gà Đông Tảo, gà Hồ, gà Mía và gà Ri.và được phân bố rộng rãi (Nguyễn Thị Mai và cs.
Như vậy, thông qua các di chỉ khảo cổ với các niên đại khác nhau cùng các kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học cho phép khẳng định Gallus Banquiva là tổ tiên của các giống gà nhà hiện nay. Trải qua hàng nghìn năm thuần hoá và không ngừng chọn lọc đã hình thành các giống gà địa phương thích nghi tốt với đặc điểm riêng biệt của từng quốc gia, của từng vùng lãnh thổ, đồng thời hình thành nên các giống gà theo các hướng sản xuất khác nhau như hiện nay. Cơ sở di truyền các tính trạng ở gà Ở gà, bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội (2n) là 78, bao gồm 39 cặp nhiễm sắc thể, trong đó có 8 cặp nhiễm sắc thể lớn (macro chromosomes), 30 cặp nhiễm sắc thể nhỏ (micro chromosomes) và một cặp nhiễm sắc thể giới tính. Gà trống có 78 cặp nhiễm sắc thể với cặp nhiễm sắc thể giới tính là ZZ, gà mái có 77 cặp nhiễm sắc thể với cặp nhiễm sắc thể giới tính là ZO.
Bằng các tiến bộ trong kỹ thuật di truyền tế bào, người ta đã xác định được con mái dị giao tử với cặp nhiễm sắc thể giới tính là ZW. Gà là đối tượng đầu tiên trong chăn nuôi được thiết lập bản đồ gen. Người ta đã xác định được ở gà có 5 nhóm gen liên kết gồm 18 locus, kích thước genom là 1200 cặp megabase (Phan Cự Nhân, 2000). Lịch sử tiến hoá ở gia cầm đã hình thành hàng loạt các tính trạng, có thể phân chia các tính trạng gia cầm thành 2 loại là tính trạng chất lượng và tính trạng số lượng.
Tính trạng chất lượng là tính trạng di truyền biểu hiện không liên tục hoặc ở trạng thái này hoặc ở trạng thái khác và bị chi phối bởi ít genne. Các tính trạng chất lượng không hoặc ít bị tác động của môi trường và sự khác nhau trong biểu hiện của chúng là rất rõ rệt (Nguyễn Văn Thiện và Nguyễn Khắc Quắc, 1998). Bên cạnh đó cũng có những kết quả nghiên cứu tương tự khẳng định tính trạng số lượng là những tính trạng di truyền biểu hiện liên tục, do nhiều gen chi phối. Nó là các tính trạng mà sự khác nhau giữa các cá thể là những sai khác về 4 c mặt số lượng trong mức độ biểu hiện của tính trạng trong từng cá thể và chỉ có thể phát hiện được sai khác bằng cách tính toán và cân đo.
Ở gia súc nói chung và gia cầm nói riêng có nhiều tính trạng số lượng mà người ta có thể theo dõi được quy luật di truyền của chúng như tốc độ tăng trọng, tuổi đẻ trứng đầu, sản lượng trứng, khối lượng trứng, khối lượng gà qua các tuần tuổi và các chiều đo cơ thể. Cũng theo tác giả này cho rằng, các tính trạng chất lượng được di truyền theo các định luật cơ bản của Mendel: quy luật di truyền trội - lặn, mỗi gen quy định một tính trạng và tác động riêng rẽ lên sự hình thành tính trạng hoặc do sự tương tác đơn giản giữa 2 cặp gen, quy luật di truyền liên kết và di truyền liên kết với giới tính. Bản chất di truyền các tính trạng số lượng là do nhiều gen điều khiển và sự di truyền của chúng cũng phù hợp với các quy luật di truyền của Mendel. Khi nghiên cứu bản chất di truyền các tính trạng số lượng cho thấy các tính trạng số lượng do nhiều gen kiểm soát và mỗi alen của chúng có một hiệu ứng nhỏ, riêng biệt và biểu hiện kiểu hình là kết quả cộng gộp của các hiệu ứng của các alen, hay nói cách khác kiểu hình là kết quả của sự tương tác giữa kiểu gen và môi trường (Lê Đình Trung và Nguyễn Hữu Lanh, 2000).
P=G+E Trong đó: P là giá trị kiểu hình (phenotype value ) G là giá trị kiểu gen (genotype vanlue) E là sai lệch môi trường (environmental deviation) Giá trị kiểu gen (G) bao gồm: Giá trị cộng gộp A (additive value) đây là thành phần quan trọng nhất của kiểu gen vì nó cố định và di truyền được. Sai lệch trội D (dominance deviation): là sự sai khác giữa giá trị kiểu gen (G) và giá trị giống (A) của một kiểu gen nào đó khi xem xét một locus duy nhất. Sai lệch tương tác I (interaction deviation): là sai lệch có được do sự tương tác giữa các gen thuộc các locus khác nhau khi kiểu gen gồm từ hai locus trở lên. G=A+D+I 5 c Sai lệch môi trường gồm: sai lệch môi trường chung Eg (generalenvironmental deviation) và sai lệch môi trường riêng Es (special environmental deviation).
E = Eg + Es Trong di truyền số lượng kiểu gen của các cá thể thường được cấu tạo từ nhiều locus, vì vậy có thể biểu thị giá trị kiểu hình như sau: P = A + D + I + Eg + Es Kiểu di truyền và môi trường đều có tác động đến sự phát triển của tính trạng. Tuy nhiên, sự biểu hiện của tính trạng qua nhiều kiểu hình, kiểu di truyền quyết định các biến động là chính còn lại do di truyền và ngoại cảnh phối hợp tác động. Đối với tính trạng số lượng, giá trị kiểu gen được tạo thành do hiệu ứng nhỏ của các gen tập hợp lại cùng với các gen có hiệu ứng lớn.