CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MARKETING DỊCH VỤ 1. TỔNG QUAN VỀ MARKETING DỊCH VỤ 1. Các khái niệm trong Marketing dịch vụ a. Khái niệm dịch vụ Dịch vụ được định nghĩa là bất kỳ hoạt động nào mà một bên có thể cung ứng cho bên kia và cung ứng này là vô hình và không tạo ra bất kỳ sự sở hữu nào về vật chất cụ thể.
Việc sản xuất ra dịch vụ có thể hoặc không sử dụng các hỗ trợ của sản phẩm vật chất. [3] Dịch vụ là lĩnh vực kinh tế rất quan trọng trong xã hội hiện đại. Xã hội càng phát triển, trình độ chuyên môn hóa và phân công lao động xã hội càng cao thì lĩnh vực dịch vụ càng phát triển để đáp ứng nhu cầu đa dạng của xã hội. Xã hội sau công nghiệp sẽ là xã hội dịch vụ.
Một dịch vụ cũng mang lại lợi ích nhất định cho người tiếp nhận như một hàng hóa hữu hình. Một sản phẩm hữu hình sẽ không thể được tạo ra nếu không có một số dịch vụ hỗ trợ cho quá trình sản xuất nó và đưa nó đến tay người tiêu dùng. Một hàng hóa cũng không bán được giá cao nếu không có các dịch vụ hỗ trợ. Dịch vụ có thể nằm trong phạm vi hoặc vượt quá phạm vi sản phẩm vật chất.
Người ta phân biệt hai thái cực - một đầu chỉ hàng hoá hiện hữu hoàn toàn và đầu kia chỉ dịch vụ hoàn toàn. Vô Hàng Bảo hiểm tuyến không, Tư vấn Bưu điện Giáo dục Vật ất Dị vụ hoàn toàn hoàn toàn Muối, Quần áo Ô tô Nhà hàng đồ hộp may sẵn Nhà ở Xe máy Quán ăn Hình 1.1: Ranh giới giữa hàng hoá và dịch vụ Luan van 8 Một sản phẩm có thể chứa nhiều hay ít phần dịch vụ hơn tuỳ thuộc vào bản chất của hoạt động sản xuất kinh doanh ra nó. Ranh giới giữa hàng hoá và dịch vụ ngày càng mờ dần khi các công ty ngày càng đưa ra nhiều hỗn hợp sản phẩm, dịch vụ để cạnh tranh. Dịch vụ liên quan nhiều đến con người trong quá trình sản xuất, con người ở đây chính là người tiêu dùng và người cung cấp dịch vụ.
Do vậy, dịch vụ thường yêu cầu sự khắt khe trong khâu kiểm soát chất lượng nhiều hơn hàng hoá, người cung ứng dịch vụ phải có tín nhiệm cao hơn và có khả năng thích ứng cao hơn so với hàng hóa. Phân loại phối thức dịch vụ Dịch vụ có thể là một phần quan trọng hoặc một phần phụ trong toàn bộ cung ứng. Có năm loại dịch vụ cần phải phân biệt: - Hàng hóa hoàn toàn hữu hình: Cung ứng bao gồm chủ yếu là hàng hóa hữu hình, không hề có dịch vụ nào được kèm theo sản phẩm. - Hàng hóa hữu hình kèm theo dịch vụ: Cung ứng bao gồm hàng hóa hữu hình được kèm theo một hoặc một vài dịch vụ, việc bán hàng phụ thuộc vào chất lượng và tính sẵn có của các dịch vụ khách hàng kèm theo (phòng trưng bày hàng hóa, giao hàng, sửa chữa và bảo dưỡng, hỗ trợ sử dụng, đào tạo vận hành, lắp đặt, bảo hành).
- Hàng hóa hữu hình kết hợp với dịch vụ: Cung ứng bao gồm hai phần dịch vụ và hàng hóa hữu hình bằng nhau. - Dịch vụ kèm theo hàng hóa hữu hình và dịch vụ bổ sung: Cung ứng bao gồm một phần lớn là dịch vụ đi kèm với những hàng hóa hữu hình hoặc dịch vụ phụ trợ. Dịch vụ đòi hỏi phải có hàng hóa hữu hình để thực hiện dịch vụ, tuy nhiên yếu tố quan trọng vẫn là dịch vụ. - Dịch vụ hoàn toàn: Cung ứng chỉ gồm có dịch vụ.
Bản chất của dịch vụ Dịch vụ thuần túy có các đặc trưng phân biệt so với hàng hóa thuần túy. Đó là đặc trưng: Tính vô hình, tính không tách rời giữa cung cấp và tiêu dùng dịch vụ, tính không đồng đều về chất lượng, tính không dự trữ được, tính không chuyển đổi sở hữu. Chính các đặc trưng này sẽ dẫn đến sự khác biệt của nội dung Markeitng dịch vụ so với Marketing hàng hóa hữu hình. Tính vô hình: Hàng hóa có hình dáng, kích thước, màu sắc, và thậm chí là cả mùi vị.
Khách hàng có thể tự xem xét đánh giá xem nó có phù hợp với nhu cầu của mình không. Ngược lại, dịch vụ mang tính vô hình, làm cho các giác quan của khách hàng không nhận biết được trước khi mua dịch vụ. Đây chính là một khó khăn lớn khi bán một dịch vụ so với khi bán một hàng hóa hữu hình, vì khách hàng khó thử dịch vụ trước khi mua, khó cảm nhận được chất lượng, khó lựa chọn dịch vụ, nhà cung cấp dịch vụ khó quảng cáo về dịch vụ. Do vậy dịch vụ khó bán hơn hàng hóa hữu hình và trong khi các nhà làm Marketing sản phẩm hữu hình cố gắng tạo thêm các yếu tố vô hình thì những người làm Marketing dịch vụ lại cố gắng thêm các yếu tố hữu hình vào các cung ứng vô hình.
Dịch vụ có tính không tách rời giữa quá trình cung cấp và tiêu dùng: Hàng hóa được tập trung sản xuất tại một nơi, rồi vận chuyển đến nơi có nhu cầu. Khi ra khỏi dây chuyền sản xuất thì hàng hóa đã hoàn chỉnh. Do đó, nhà sản xuất có thể đạt được tính kinh tế theo quy mô do sản xuất tập trung hàng loạt, và quản lý chất lượng sản phẩm tập trung. Nhà sản xuất cũng có thể sản xuất khi nào thuận tiện rồi cất trữ vào kho và đem bán khi có nhu cầu.
Do vậy, họ dễ thực hiện được cân đối cung cầu. Nhưng quá trình cung cấp dịch vụ và tiêu dùng dịch vụ xảy ra đồng thời. Người cung cấp dịch vụ và khách hàng đều tham gia vào chất lượng và kết quả của dịch vụ. Họ phải tiếp xúc, tương tác với nhau để cung cấp và tiêu dùng dịch vụ tại các địa điểm và thời Luan van 10 gian phù hợp cho hai bên.
Đối với một số các dịch vụ, khách hàng phải có mặt trong suốt quá trình cung cấp dịch vụ. Dịch vụ đa dạng, không ổn định về chất lượng, không thể được cung cấp hàng loạt, tập trung như sản xuất hàng hóa: Nhà cung cấp khó kiểm tra chất lượng theo một tiêu chuẩn thống nhất. Mặt khác, sự cảm nhận của khách hàng về chất lượng dịch vụ lại chịu tác động mạnh bởi kỹ năng, thái độ của người cung cấp dịch vụ. Sức khỏe, sự nhiệt tình của nhân viên cung cấp dịch vụ vào buổi sáng và buổi chiều có thể khác nhau.
Khó có thể đạt được sự đồng đều về chất lượng dịch vụ vì nó dễ dàng thay đổi theo trạng thái tinh thần và thể chất của nhân viên ở thời điểm họ cung ứng dịch vụ cho khách hàng. Có nghĩa là chất lượng của dịch vụ phụ thuộc vào người cung ứng chúng cũng như khi nào, ở đâu và chúng được cung ứng như thế nào. Dịch vụ ngày càng nhiều người phục vụ thì càng khó đảm bảo tính đồng đều về chất lượng. Dịch vụ không lưu giữ được: Dịch vụ chỉ tồn tại vào thời gian mà nó được cung cấp.
Do vậy, dịch vụ không thể sản xuất hàng loạt để cất vào kho dự trữ, khi có nhu cầu thị trường thì đem ra bán. Dịch vụ không thể sở hữu: Khi mua một hàng hóa, khách hàng được quyền sở hữu và trở thành chủ sở hữu của hàng hóa mình đã mua. Khi mua dịch vụ thì khách hàng chỉ được quyền sử dụng dịch vụ, được hưởng lợi ích mà dịch vụ mang lại trong một thời gian nhất định mà thôi. Cấu trúc của dịch vụ Dịch vụ cơ bản (dịch vụ cốt lõi): là dịch vụ đáp ứng lợi ích chủ yếu nhất của khách hàng.
Dịch vụ thứ cấp (dịch vụ giá trị gia tăng): là sự kết hợp giữa yếu tố hữu hình và vô hình. Các yếu tố cấu thành nên dịch vụ thứ cấp bao gồm: các đặc tính dịch vụ, kiểu cách đóng gói, nhãn hiệu, các yếu tố hữu hình và chất lượng dịch vụ Luan van 11 a4. Hệ thống cung cấp dịch vụ - Khách hàng: Là người thụ hưởng dịch vụ, là yếu tố quan trọng nhất cấu thành nên hệ thống dịch vụ. Chất lượng dịch vụ cao hay thấp chủ yếu dựa vào sự cảm nhận và lựa chọn của khách hàng.
- Cơ sở vật chất: Bao gồm hệ thống trang thiết bị cần thiết cho việc cung cấp dịch vụ, địa điểm diễn ra giao dịch, các hoạt động và môi trường sử dụng dịch vụ,… - Người cung cấp dịch vụ: Bao gồm các nhân viên tuyến đầu, nhân viên gián tiếp và cán bộ quản lý. Họ là cầu nối giữa doanh nghiệp và khách hàng, thay mặt doanh nghiệp phục vụ khách hàng. Tuy nhiên, trong một số loại dịch vụ không cần sự xuất hiện của người cung cấp và khách hàng. - Dịch vụ: Là mục tiêu và đồng thời cũng là kết quả của toàn hệ thống dịch vụ.
Dịch vụ được quyết định bởi các kịch bản đã vạch ra và kịch bản đó quy định và chi phối cấu trúc dịch vụ. Ngược lại cấu trúc dịch vụ lại chi phối sự hình thành của hệ thống dịch vụ. - Tổ chức nội bộ trong doanh nghiệp dịch vụ: Hệ thống này là vô hình, không định lượng được. Tổ chức này gồm các chức năng cơ bản như: quản trị nhân sự, tài chính, sản xuất, marketing, nghiên cứu phát triển,…Tổ chức nội bộ quyết định quá trình hoạt động sáng tạo để cung cấp dịch vụ của cả hệ thống dịch vụ.
- Các khách hàng khác: Các khách hàng đang cùng sử dụng dịch vụ luôn có tác động qua lại lẫn nhau, họ vừa có tác động tích cực vừa có tác động tiêu cực đối với doanh nghiệp. Khái niệm Marketing Thuật ngữ Marketing xuất hiện từ những năm đầu thế kỷ XX, lần đầu tiên tại Hoa Kỳ (1905) nhưng chỉ sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 – 1932) và đặc biệt là sau cuộc chiến tranh thế giới lần thứ II (1941- Luan van 12 1945) nó mới có những bước nhảy vọt, phát triển mạnh mẽ về cả lượng và chất để thực sự trở thành một lĩnh vực khoa học phổ biến như ngày nay. Marketing được truyển bá sang Nhật và Tây Âu vào những năm 50 và 60, vào các nước Đông Âu những năm 60 và 70, vào Việt Nam đầu những năm 80 của thế kỷ XX. Trong giới lý luận hiện nay mặc dù đã có hàng trăm định nghĩa khác nhau về marketing nhưng vẫn chưa đi đến thống nhất sử dụng một định nghĩa chính thống.