chương 1 Thi hành án dân sự có vai trò quan trọng trong hoạt động tư pháp nói chung và quá trình giải quyết vụ án nói riêng. Bản án, quyết định của Tòa án chỉ thực sự có giá trị khi được thi hành trên thực tế. Hoạt động thi hành án là công đoạn cuối cùng, bảo đảm cho bản án, quyết định của Tòa án được chấp hành, góp phần bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và Nhà nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước. Các quy định về biện pháp cưỡng chế trong thi hành án dân sự đã có nhiều điểm mới hơn, chi tiết và cụ thể hơn so với các quy định trước đây.
Việc nhận thức đúng về biện pháp cưỡng chế trong thi hành án là điều kiện rất cần thiết để các cơ quan nhà nước và nhân dân nắm rõ được quyền và nghĩa vụ của mình trong hoạt động THADS, để từ đó nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật, ý thức pháp luật, hình thành thói quen “sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật”, xây một nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân. 19 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CÁC BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ QUA THỰC TIỄN THỰC HIỆN Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI 2. Thực trạng pháp luật về các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự 2. Thực trạng các quy định chung của Luật thi hành án dân sự về cưỡng chế thi hành án dân sự Trên cơ sở quy định tại Điều 46 Luật Thi hành án dân sự 2008 và Điều 13 Nghị định 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ thì hết thời gian tự nguyện thi hành án, người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng chế.
Không tổ chức cưỡng chế thi hành án trong thời gian từ 22 giờ đến 06 giờ sáng ngày hôm sau, các ngày nghỉ, ngày lễ theo quy định của pháp luật, không tổ chức cưỡng chế thi hành án có huy động lực lượng trong thời gian 15 ngày trước và sau tết Nguyên đán; các ngày truyền thống đối với các đối tượng chính sách, nếu họ là người phải thi hành án; các trường hợp đặc biệt khác ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, phong tục, tập quán tại địa phương. Có ba căn cứ để cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 70 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 là: Bản án , quyết định; Quyết định thi hành án; Quyết định cưỡng chế thi hành án, trừ trường hợp bản án, quyết định đã tuyên kê biên, phong tỏa tài sản, tài khoản và trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án [20, tr. Để thực hiện cưỡng chế thi hành án dân sự cần phải tuân thủ những nguyên tắc chung theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự như: *Xác minh điều kiện thi hành án trước khi tiến hành cưỡng chế. Xác minh điều kiện thi hành án dân sự là điều kiện bắt buộc và quyết định cho việc thực hiện cưỡng chế thành công hay không thành công.
Công tác xác minh điều kiện thi hành án dân sự phải được thực hiện một cách khoa học, toàn diện, đầy đủ và tỉ mỷ, chi tiết tới từng nội dung và phù hợp theo đúng yêu cầu đặt ra của từng 20 việc cưỡng chế thi hành án cụ thể. Xác định được vai trò và tầm quan trọng của công tác xác minh điều kiện thi hành án, tại Điều 44 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi bổ sung tại khoản 17 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự), Điều 9 Nghị định 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ, Điều 4 Thông tư liên tịch số 04/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 26/7/2010 và mục 1 Chương II của Thông tư liên tịch số 02/2014/TTLT-BTP-BTC-BLĐTBXH-NHNNVN ngày 14/01/2014 quy định chi tiết các vấn đề liên quan đến công tác xác minh thi hành án dân sự; Trách nhiệm của cá nhân tổ chức có liên quan đến công tác xác minh thi hành án dân sự. Theo đó, trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hết thời hạn tự nguyện thi hành án mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì Chấp hành viên tiến hành xác minh; trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải tiến hành xác minh ngay. Người phải thi hành án phải kê khai trung thực, cung cấp đầy đủ thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án với cơ quan thi hành án dân sự và phải chịu trách nhiệm về việc kê khai của mình [15, tr.
*Lựa chọn biện pháp cưỡng chế. Nội dung này được quy định tại Điều 13 Nghị định 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ. Theo đó, căn cứ nội dung bản án, quyết định; Trên cơ sở tính chất, mức độ, nghĩa vụ thi hành án; điều kiện của người phải thi hành án; đề nghị của đương sự và tình hình thực tế của địa phương, chấp hành viên sẽ lựa chọn việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án cho phù hợp. Việc áp dụng biện pháp bảo đảm, cưỡng chế thi hành án phải tương ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án và các chi phí cần thiết.
Trường hợp người phải thi hành án chỉ có một tài sản duy nhất lớn hơn nhiều lần so với nghĩa vụ phải thi hành án mà tài sản đó không thể phân chia được hoặc việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thì chấp hành viên vẫn có quyền áp dụng biện phápcưỡng chế để thi hành án [13, tr. *Xác định loại tài sản không được kê biên, cưỡng chế. Theo quy định tại Điều 87 Luật Thi hành án dân sự thì các loại tài sản sau không được kê biên, cưỡng chế: Tài sản bị cấm lưu thông theo quy định của pháp 21 luật; tài sản phục vụ quốc phòng, an ninh, lợi ích công cộng; tài sản do ngân sách nhà nước cấp cho cơ quan, tổ chức. Tài sản của người phải thi hành án là cá nhân bao gồm: Số lương thực đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người phải thi hành án và gia đình trong thời gian chưa có thu nhập, thu hoạch mới; Số thuốc cần dùng để phòng, chữa bệnh của người phải thi hành án và gia đình; Vật dụng cần thiết của người tàn tật, vật dụng dùng để chăm sóc người ốm; Đồ dùng thờ cúng thông thường theo tập quán ở địa phương; Công cụ lao động cần thiết, có giá trị không lớn được dùng làm phương tiện sinh sống chủ yếu hoặc duy nhất của người phải thi hành án và gia đình.
*Xây dựng kế hoạch cưỡng chế thi hành án. Đây là nội dung bắt buộc, được quy định cụ thể tại Điều 72 Luật Thi hành án dân sự 2008 - được sửa đổi bổ sung tại khoản 29 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự. Theo đó, chấp hành viên chỉ xây dựng kế hoạch cưỡng chế trong trường hợp cần huy động lực lượng; Thống nhất với cơ quan công an về bảo vệ cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Thông tư liên tịch 03/2012/TTLT-BTP-BCA ngày 30/3/2012 của Bộ Tư pháp, Bộ Công an. Kế hoạch cưỡng chế phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan Công an cùng cấp, Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn nơi tổ chức cưỡng chế và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc cưỡng chế thi hành án.
Nội dung của kế hoạch cưỡng chế phải có tên người bị áp dụng cưỡng chế, biện pháp cưỡng chế cần áp dụng, thời gian, địa điểm, phương án tiến hành cưỡng chế, dự trù chi phí cưỡng chế và yêu cầu về lực lượng tham gia bảo vệ cưỡng chế [23, tr. *Thực hiện thông báo cưỡng chế thi hành án. Theo quy định tại Điều 39, 40,41 42,43 Luật Thi hành án dân sự thì: việc thông báo phải được thực hiện trong 03 ngày làm việc kể từ ngày ra văn bản; Trừ trường hợp cần ngăn chặn đương sự tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án. Việc thông báo được thực hiện qua ba hình thức đó là: thông báo trực tiếp hoặc qua cơ quan tổ chức các nhân khác theo quy định của pháp luật; Thực hiện niêm yết công khai hoặc thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Việc 22 thông báo thi hành án còn được quy định cụ thể tại Điều 12 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ; Điều 3 Thông tư liên tịch số 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 26/7/2010 giữa Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao. Việc thông báo phải được thực hiện dưới các hình thức cụ thể, phù hợp với tính chất đặc điểm của từng vụ việc thi hành án; từng đối tượng được thông báo [5, tr. Đối với việc thi hành án dân sự có liên quan đến người nước ngoài mà cần phải thông báo thì cần phải thực hiện việc ủy thác tư pháp theo quy định tại Điều 181 Luật Thi hành án dân sự về vấn đề tương trợ tư pháp trong thi hành án dân sự và Điều 50 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính Phủ. Trường hợp việc thi hành án đang do cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện tổ chức thi hành cần yêu cầu tương trợ tư pháp thì cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện lập hồ sơ ủy thác tư pháp và gửi cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh để thực hiện việc ủy thác tư pháp.
Trình tự, thủ tục yêu cầu thực hiện tương trợ tư pháp thực hiện theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và pháp luật về tương trợ tư pháp [7, tr. *Chi phí cưỡng chế thi hành án Theo quy định tại Điều 73 Luật Thi hành án dân sự; Khoản 30 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự và Điều 43 Nghị định 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ thì có 03 đối tượng phải chịu chi phí cưỡng chế thi hành án đó là: Người phải thi hành án, người được thi hành án và ngân sách nhà nước.