CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số vấn đề về tự học 1. Các quan niệm về tự học Trong lịch sử giáo dục, vấn đề tự học được quan tâm từ rất sớm, được đề cập và nhìn nhận theo nhiều cách khác nhau. Trong từ điển Giáo dục học, NXB từ điển Bách khoa 2001 có viết: “Tự học là quá trình chủ thể nhận thức tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức và rèn luyện kỹ năng thực hành, không có sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên và sự quản lí trực tiếp của cơ sở giáo dục đào tạo”.
Theo Nguyễn Cảnh Toàn [17]: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình”. Tác giả Nguyễn Kỳ [9] cho rằng: “Tự học là người học tích cực chủ động, tự mình tìm ra tri thức kinh nghiệm bằng hành động của mình, tự thể hiện mình. Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí của người tự nghiên cứu, xử lý các tình huống, giải quyết các vấn đề, thử nghiệm các giải pháp… Tự học thuộc quá trình cá nhân hóa việc học”. Trong tập bài giảng chuyên đề “Dạy tự học cho sinh viên trong các nhà trường trung học chuyên nghiệp và Cao đẳng, Đại học”, Thái Duy Tuyên có viết: “Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) cùng các phẩm chất động cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử, xã hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân người học”.
5 Trong bài phát biểu tại hội thảo nâng cao chất lượng dạy và học tổ chức vào tháng 11 năm 2005 tại Đại học Huế, Trần Phương cho rằng: “Học bao giờ và lúc nào cũng chủ yếu là tự học, tức là biến kiến thức khoa học tích lũy từ nhiều thế hệ của nhân loại thành kiến thức của mình, tự cải tạo tư duy của mình và rèn luyện cho mình kỹ năng thực hành những tri thức ấy”. Theo Bùi Văn Nghị [11]: “Quá trình tự học là quá trình chủ thể nhận thức biến đổi bản thân để chiếm lĩnh tri thức, dựa vào năng lực, hành động của chính bản thân chứ không nhờ hành động của người khác”. Tóm lại ta có thể hiểu rằng, tự học là học một cách tự giác, cần mẫn, siêng năng, kiên trì, bền bỉ và phải biết vượt qua hoàn cảnh, vượt qua chính mình, biết tự vận dụng tất cả từ ý chí, nghị lực, tư duy, nhân cách, tâm hồn, mục đích sống đến khát vọng của bản thân nhằm chiếm lĩnh tri thức của nhân loại. Người tự học là người biết biến những kiến thức có trong sách vở, tài liệu, trong thực tiễn đời sống thành kiến thức của mình một cách vững chắc qua quá trình sàng lọc, lựa chọn.
HS biết tự học mới thực là học, GV biết hướng dẫn HS tự học, tự nghiên cứu mới thực là dạy. Tự học là gốc của học tập và xây dựng xã hội học tập. Các hình thức tự học Trong quá trình học tập, HS có thể tiến hành hoạt động tự học trong những điều kiện, hoàn cảnh khác nhau và dưới nhiều hình thức khác nhau. - Theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn [17, 18], tự học có ba hình thức: + Tự học không có người hướng dẫn: người học tự tìm tài liệu để đọc, hiểu, vận dụng các kiến thức trong đó.
Cách học này sẽ gây nhiều khó khăn cho người học vì nó đòi hỏi khả năng tự học rất cao. + Tự học có hướng dẫn: là hình thức tự học có sự hướng dẫn từ xa của GV thông qua tài liệu hoặc các phương tiện thông tin khác. 6 + Tự học có người hướng dẫn trực tiếp: có tài liệu hướng dẫn, HS gặp trực tiếp GV một số tiết trong ngày, trong tuần, được thầy hướng dẫn sau đó về nhà tự học. - Theo tác giả Thái Duy Tuyên [20], có nhiều cách tự học khác nhau: + Tự học dưới sự hướng dẫn của GV như tự học của HS, sinh viên, thực tập sinh, nghiên cứu sinh… + Tự học không có sự hướng dẫn của GV: trường hợp này thường liên quan đến những người trưởng thành, các nhà khoa học… + Tự học trong cuộc sống: thường gặp ở các nhà văn, các nhà văn hóa, các nhà kinh tế, các nhà chính trị - xã hội… 1.
Mối quan hệ giữa dạy học và tự học Theo Bùi Văn Nghị [11]: Giữa dạy học và tự học tồn tại mối quan hệ biện chứng. Thực chất đó là mối quan hệ giữa nội lực và ngoại lực. Trong đó, NLTH của HS chính là nội lực phát triển bản thân người học, còn sự tác động của thầy, môi trường xã hội… đóng vai trò ngoại lực đối với sự phát triển bản thân người học. Theo quy luật khách quan, nội lực – NLTH của trò – là yếu tố quyết định, còn ngoại lực – tác động dạy của thầy, của môi trường xã hội – sẽ thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển đó.
Bởi vậy, muốn bản thân người học phát triển cao nhất thì tác động của người thầy phải “cộng hưởng” với NLTH của trò. Việc dạy phải đảm bảo sự thống nhất giữa tính vừa sức và nhu cầu phát triển của người học. Mục đích của việc dạy học là giúp cho HS lĩnh hội được kiến thức, rèn luyện được kỹ năng, kỹ xảo và biết vận dụng các tri thức đó vào giải quyết các vấn đề gặp phải trong thực tiễn. Thực tế cho thấy, nếu HS chỉ học một cách thụ động, được nhồi nhét kiến thức mà không có sự ham thích, tự giác, tích cực, không có thói quen suy nghĩ một cách sâu sắc thì kiến thức sẽ nhanh chóng bị lãng quên.
Mặt khác, kiến thức là vô tận và luôn luôn biến đổi. Do 7 vậy, để tự mình bắt kịp với xu thế thì phải không ngừng nỗ lực học tập và để làm được điều đó thì phải có phương pháp tự học, đó cũng chính là mục tiêu lớn của quá trình dạy học. Như vậy, giữa dạy học và tự học có mối quan hệ qua lại tác động lẫn nhau cùng hướng đến một đích là sự phát triển của bản thân người học. Dạy học là vì người học, vì NLTH của HS – yếu tố quyết định sự phát triển của bản thân người học.
Dạy học cốt lõi là dạy tự học. Mặt khác, học luôn cần có dạy, tự học chỉ đạt hiệu quả cao khi có sự tác động hợp lý của việc dạy, bởi vì muốn tự học thì phải có sự hiểu biết, phải có phương pháp học tập hợp lý, điều này có được nhờ quá trình dạy học. Đặc trưng của hoạt động tự học Tham khảo [21], chúng tôi đưa ra một số đặc trưng cơ bản của hoạt động tự học như sau: - Tự học có tính độc lập cao: Tự học là một quá trình học tập tự giác, tích cực, chủ động, có phong cách và phương pháp cá nhân; có mục tiêu và giải pháp cá nhân gắn với nhu cầu và khả năng của bản thân người học. Chính người học là chủ thể thực hiện quá trình học từ đầu cho đến khi kết thúc.
Tính tích cực, chủ động trong hoạt động học đã quan trọng nhưng nó càng có vai trò quan trọng hơn trong tự học, nó được coi như một công cụ hỗ trợ đắc lực giúp cá nhân tích lũy kinh nghiệm, tri thức và hoàn thiện nhân cách. - Đối với tự học, động cơ có vai trò quan trọng. Đó là nguồn kích thích, là tiềm lực bên trong gây hứng thú khi người học tham gia quá trình học. Nhờ vào các hứng thú, người học tham gia tích cực và biết tiếp tục quá trình học bằng cách tạo cho nó một hình thức phù hợp với tính cách của mình.
- Trong hoạt động tự học thì khả năng lựa chọn về nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức học là rất cao và rộng rãi. Sự lựa chọn này luôn 8 hướng đến sự phù hợp giữa người học với các điều kiện bên ngoài. Đây là một đặc trưng mà chỉ trong hoạt động tự học mới có. - Mỗi cá nhân có một phương pháp học tập, cách tổ chức học tập khác nhau, đặc trưng riêng cho cá nhân đó, vì vậy có thể nói phương pháp tự học mang tính cá nhân cao.
Tự học phải dựa trên chính tiềm năng và ý thức trách nhiệm của người học. Biểu hiện của năng lực tự học toán của học sinh THPT NLTH toán có thể hiểu là khả năng tìm tòi và vận dụng các tri thức, kỹ năng, tư duy toán học vào việc phát hiện và giải quyết các vấn đề của môn Toán một cách có hiệu quả trong các tình huống, hoàn cảnh khác nhau. NLTH nói chung và NLTH toán nói riêng của HS được biểu hiện thông qua một hệ thống các kỹ năng. Tham khảo [21], chúng tôi chia các kỹ năng đó thành hai nhóm cơ bản như sau: a) Nhóm kỹ năng tự học thuộc các hoạt động có thể quan sát được, bao gồm: - Kỹ năng nghe giảng trong tự học toán: Nghe giảng là quá trình HS thu nhận thông tin qua lời của GV.
Kết quả sau khi nghe giảng là sự thể hiện trình độ tiếp nhận vấn đề và trình độ tự học của người học. Bởi vì, một HS có khả năng tự học tốt thì việc nghe giảng cũng tập trung hơn và ngược lại, HS có kỹ năng nghe tốt thì sẽ tiếp thu được nhiều thông tin hơn, từ đó có cơ sở giúp cho việc tự học được dễ dàng hơn. - Kỹ năng ghi chép trong tự học toán: Ghi chép là thao tác phổ biến trong hoạt động tự học của HS. Ghi chép mang sắc thái và thể hiện trình độ tự học của cá nhân.
Người có khả năng tự học tốt là người biết ghi chép một cách ngắn gọn theo ý hiểu của mình, biết sử dụng tối đa các kí hiệu toán học trong ghi chép, vừa mất ít thời gian hơn mà vẫn đảm bảo nội dung. - Kỹ năng hỏi, kỹ năng giao tiếp với thầy và bạn trong tự học toán: Có 9 hai hình thức chủ yếu là tự hỏi và hỏi người khác thông qua việc trao đổi, thảo luận. Tự hỏi là bản thân người học tự đặt câu hỏi cho mình rồi tự tìm câu trả lời. Nếu không trả lời được thì hỏi bạn, hỏi GV, hỏi người khác.