Luận văn thạc sĩ luật kinh tế bảo hiểm hưu trí theo pháp luật bảo hiểm xã hội việt nam từ thực tiễn thị xã sơn tây thành phố hà nội

Luận văn thạc sĩ luật kinh tế phân tích bảo hiểm hưu trí theo pháp luật bảo hiểm xã hội Việt Nam, áp dụng thực tiễn tại thị xã Sơn Tây, Hà Nội.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Luật Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2020

84
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

MỞ ĐẦU

1. Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM HƯU TRÍ VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM HƯU TRÍ

1.1. Một số vấn đề lý luận về bảo hiểm hưu trí

1.2. Một số vấn đề lý luận về Pháp luật bảo hiểm hưu trí

2. Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ BẢO HIỂM HƯU TRÍ

2.1. Thực trạng Quy định pháp luật về bảo hiểm hưu trí bắt buộc

2.2. Thực trạng Quy định pháp luật về bảo hiểm hưu trí tự nguyện

2.3. Thực trạng Quy định pháp luật về chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung

3. Chương 3: THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BHHT TẠI THỊ XÃ SƠN TÂY VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT, NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BHHT

3.1. Thực tiễn thực hiện pháp luật bảo hiểm hưu trí tại thị xã Sơn Tây

3.2. Một số hạn chế và kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật BHHT

3.3. Một số hạn chế, nguyên nhân và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật BHHT tại thị xã Sơn Tây

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Luận Văn Thạc Sĩ Luật Kinh Tế Bảo Hiểm Hưu Trí Theo Pháp Luật Bảo Hiểm Xã Hội Việt Nam Tại Thị Xã Sơn Tây Hà Nội

Luận văn thạc sĩ này tập trung nghiên cứu bảo hiểm hưu trí theo pháp luật bảo hiểm xã hội Việt Nam, đặc biệt tại thị xã Sơn Tây, Hà Nội. Nghiên cứu nhằm làm rõ các vấn đề lý luận, thực trạng pháp luật, và thực tiễn thực hiện chính sách hưu trí tại địa phương. Luận văn cũng đề xuất các giải pháp cải cách để hoàn thiện hệ thống bảo hiểm hưu trí, đảm bảo an sinh xã hội cho người lao động.

1.1. Khái Niệm Và Ý Nghĩa Của Bảo Hiểm Hưu Trí

Bảo hiểm hưu trí là một chế độ quan trọng trong hệ thống bảo hiểm xã hội, nhằm đảm bảo thu nhập cho người lao động khi hết tuổi lao động. Nghiên cứu chỉ ra rằng bảo hiểm hưu trí không chỉ giúp người lao động ổn định cuộc sống sau khi nghỉ hưu mà còn giảm gánh nặng cho gia đình và xã hội. Pháp luật bảo hiểm xã hội Việt Nam quy định rõ các điều kiện hưởng, mức đóng góp, và quy trình giải quyết phúc lợi hưu trí.

1.2. Thực Trạng Pháp Luật Về Bảo Hiểm Hưu Trí Tại Việt Nam

Thực trạng pháp luật hiện hành về bảo hiểm hưu trí tại Việt Nam cho thấy nhiều bất cập trong việc thực thi. Các quy định pháp lý về bảo hiểm hưu trí bắt buộctự nguyện chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của người lao động. Nghiên cứu chỉ ra rằng quỹ hưu trí có nguy cơ mất cân đối do tỷ lệ đóng góp thấp và quản lý chưa hiệu quả. Điều này đòi hỏi cải cách hệ thống pháp luật để đảm bảo tính bền vững của bảo hiểm hưu trí.

II. Thực Tiễn Thực Hiện Bảo Hiểm Hưu Trí Tại Thị Xã Sơn Tây

Nghiên cứu thực tiễn tại thị xã Sơn Tây cho thấy việc thực hiện bảo hiểm hưu trí đạt được một số kết quả tích cực, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế. Các vấn đề như thiếu thông tin, quy trình giải quyết chậm trễ, và sự thiếu đồng bộ trong quản lý bảo hiểm xã hội đã ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động. Luận văn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật bảo hiểm hưu trí tại địa phương.

2.1. Kết Quả Thực Hiện Bảo Hiểm Hưu Trí Tại Sơn Tây

Tại thị xã Sơn Tây, tỷ lệ người lao động tham gia bảo hiểm hưu trí đã tăng đáng kể trong giai đoạn 2016-2018. Tuy nhiên, việc chi trả lương hưu vẫn gặp nhiều khó khăn do thiếu nguồn quỹ và quy trình quản lý chưa hiệu quả. Nghiên cứu chỉ ra rằng cần tăng cường công tác tuyên truyền và hỗ trợ người lao động hiểu rõ về quyền lợi hưu trí.

2.2. Hạn Chế Và Giải Pháp Cải Cách

Một số hạn chế chính bao gồm thiếu sự đồng bộ trong quản lý bảo hiểm xã hội, quy trình giải quyết chậm trễ, và thiếu thông tin cho người lao động. Luận văn đề xuất các giải pháp như hoàn thiện quy định pháp lý, tăng cường giám sát, và nâng cao nhận thức của người lao động về bảo hiểm hưu trí. Những giải pháp này nhằm đảm bảo tính công bằng và hiệu quả trong việc thực hiện chính sách hưu trí.

III. Giá Trị Và Ứng Dụng Thực Tiễn Của Luận Văn

Luận văn thạc sĩ này không chỉ có giá trị lý luận mà còn mang tính ứng dụng thực tiễn cao. Nghiên cứu cung cấp cái nhìn toàn diện về bảo hiểm hưu trí tại Việt Nam, đặc biệt tại thị xã Sơn Tây, và đề xuất các giải pháp cải cách phù hợp. Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các nhà hoạch định chính sách, giảng viên, và sinh viên chuyên ngành luật kinh tế.

3.1. Ý Nghĩa Lý Luận

Luận văn đã làm rõ các khái niệm, nguyên tắc, và nội dung của bảo hiểm hưu trí theo pháp luật bảo hiểm xã hội Việt Nam. Nghiên cứu cũng đánh giá thực trạng và chỉ ra các bất cập trong hệ thống pháp luật hiện hành. Những phân tích này góp phần vào việc hoàn thiện lý thuyết về bảo hiểm hưu trían sinh xã hội.

3.2. Ứng Dụng Thực Tiễn

Những kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được áp dụng trong việc xây dựng và thực hiện chính sách hưu trí tại Việt Nam. Các giải pháp đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả quản lý bảo hiểm xã hội và đảm bảo quyền lợi của người lao động. Luận văn cũng là tài liệu hữu ích cho các nghiên cứu tiếp theo về bảo hiểm hưu trípháp luật lao động.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ luật kinh tế bảo hiểm hưu trí theo pháp luật bảo hiểm xã hội việt nam từ thực tiễn thị xã sơn tây thành phố hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM HƯU TRÍ VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM HƯU TRÍ 1. Một số vấn đề lý luận về bảo hiểm hưu trí 1.1 Khái niệm, ý nghĩa của bảo hiểm hưu trí 1.1 Khái niệm bảo hiểm hưu trí Chính sách BHXH luôn là một trong những chính sách quan trọng trong hệ thống chính sách xã hội nói chung và là chính sách cốt lõi của hệ thống chính sách an sinh xã hội (ASXH) của bất kỳ quốc gia nào, hệ thống xã hội nào. Trở lại lịch sử, BHXH đã ra đời và phát triển hàng trăm năm nay với nhiều mô hình, nhiều cách thức thực hiện khác nhau trên thế giới. Để có được các mô hình BHXH đa dạng và phong phú như ngày nay, các nhà lý luận, các nhà quản lý đã tốn khá nhiều công sức và thời gian để nghiên cứu và tổng kết thực tiễn.

Trong Luật BHXH năm 1935 của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, thuật ngữ “BHXH” lần đầu tiên chính thức được sử dụng làm tiêu đề cho một văn bản pháp luật. Thuật ngữ này xuất hiện trở lại trong một đạo luật được thông qua tại New Zealand năm 1938. Năm 1941, trong thời gian chiến tranh thế giới thứ hai, thuật ngữ này được dùng trong Hiến chương Đại Tây Dương (the Atlantic Charter of 1941). Tổ chức Lao động quốc tế (ILO10) nhanh chóng chấp nhận thuật ngữ “BHXH”, đây là mốc quan trọng ghi nhận giá trị của thuật ngữ này, một thuật ngữ diễn đạt đơn giản nhưng phản ánh được nguyện vọng sâu sắc nhất của nhân dân lao động trên toàn thế giới.

Tuy nhiên thuật ngữ “BHXH” được hiểu không giống nhau giữa các nước về mức độ phạm vi rộng hẹp của nó. Về cơ bản thì thuật ngữ này được hiểu với nghĩa là sự bảo đảm an toàn của xã hội dành cho thành viên của nó 6 thông qua các quy trình của hệ thống công cộng, nhằm giải toả những lo âu về kinh tế và xã hội cho thành viên. BHXH góp phần giúp các thành viên trong xã hội khắc phục sự suy giảm hoặc mất nguồn thu nhập thực tế do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hưu trí, và tử tuất. Dưới góc độ pháp lý, BHXH là một chế định bảo vệ NLĐ, sử dụng nguồn tiền đóng góp của NLĐ, NSDLĐ và được sự tài trợ, bảo hộ của Nhà nước nhằm trợ cấp vật chất cho người được bảo hiểm trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập bình quân do ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, hết tuổi lao động hoặc khi chết.

Ở Việt Nam, Luật BHXH năm 2014 đã quy định BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc là bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do các nguyên nhân như: ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH.2 Khái niệm bảo hiểm hưu trí Khái niệm “hưu trí” đã được dùng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, tuy nhiên theo nghĩa chung nhất thì khái niệm này dùng để chỉ: khi ở giai đoạn tuổi già, NLĐ đã hết tuổi lao động không tham gia vào các công việc lao động chính nữa. Chế độ hưu trí ra đời sẽ đảm bảo thu nhập cho NLĐ khi họ hết tuổi lao động, không còn khả năng lao động nữa. Với mục đích như vậy, trong quá trình lao động, họ cống hiến sức lao động để xây dựng đất nước bằng cách tạo ra thu nhập cho bản thân và xã hội. Đến khi họ không còn khả năng lao động nữa thì Nhà nước đảm bảo lợi ích cho NLĐ và giúp họ có nguồn thu nhập thường xuyên, ổn định qua chế độ BHHT.

Đồng thời, do thu nhập trong quá trình làm việc càng lớn thì lương hưu nhận được sau này càng cao nên họ sẽ làm việc lao động một cách chăm chỉ để đạt năng suất cao, qua đó làm tăng nguồn thu nhập cho bản thân họ và cả cho xã hội. Hưu trí là chế độ cơ bản nhất trong 5 chế độ của hệ thống BHXH. Theo 7 nghĩa chung nhất thì bảo hiểm hưu trí được hiểu là “Chế độ BHXH đảm bảo thu nhập cho người tham gia BHXH khi hết tuổi lao động hoặc không còn tham gia quan hệ lao động nữa” 1.3 Ý nghĩa của bảo hiểm hưu trí BHHT có một vai trò quan trọng đối với đời sống xã hội. Thông qua cách tổ chức và thực hiện chế độ BHHT giúp đánh giá trình độ quản lý rủi ro và mức độ an sinh xã hội đạt được trong mỗi nước; đồng thời, phản ánh trình độ phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia.

Trong giai đoạn hiện nay khi đất nước đang ngày càng hoàn thiện quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thì đất nước phải đối mặt với nhiều vấn đề ngày càng phức tạp như: như ốm đau, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, thai sản, mất việc làm, tỷ lệ già hóa dân số ngày càng tăng… Những điều này sẽ đặt cho các chế độ BHXH, trong đó có BHHT cần phải được thực hiện hiệu quả, phát huy đúng vai trò của mình. Cụ thể trong quá trình thực hiện, BHHT đã thể hiện những vai trò như sau: Đối với NLĐ đang tiếp tục làm việc, các chính sách của BHHT sẽ tạo cho họ tâm lý yên tâm và tích cực lao động hơn để tăng thêm thi nhập khi hết tuổi lao động, đảm bảo đời sống khi về hưu và giảm gánh nặng cho người thân, gia đình và xã hội. Khoản thu nhập chính đáng này là chỗ dựa chủ yếu nhằm bảo đảm cuộc sống về cả vật chất lẫn tinh thần cho NLĐ trong quãng đời còn lại sau quá trình lao động. Đối với NSDLĐ, BHHT giúp các tổ chức sử dụng lao động ổn định hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua việc phân phối các chi phí cho NLĐ một cách hợp lý.

Lúc này, BHXH sẽ khiến NSDLĐ có trách nhiệm hơn với NLĐ ngay cả khi họ không còn lao động cho đơn vị sử dụng lao động nữa.: Bên cạnh đó, việc thực hiện chế độ BHHT hình thành quỹ BHHT. Quỹ BHHT do là một nguồn quỹ lớn trong quỹ của BHXH và từ số tiền kết dư hàng năm của quỹ BHHT nên có thể đầu tư một phần vào các hoạt động kinh tế để 8 sinh lời, tăng thêm nguồn thu cho quỹ BHXH. Vì vậy, một trong những mục tiêu chính trong của Luật BHXH là bảo đảm an toàn, cân đối quỹ BHXH. Việc triển khai có hiệu quả các chính sách về BHHT còn thể hiện trách nhiệm của Nhà nước, của xã hội đối với những người đã có quá trình lao động đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước, nay hết tuổi lao động.

Nó phản ánh rõ nét các giá trị xã hội, tính nhân văn, nhân đạo của dân tộc, là một trong những nội dung nòng cốt của chính sách đảm bảo xã hội quốc gia. Sau khi về hưu không tham gia lao động nữa đồng thời họ sẽ không đóng góp vào quỹ nữa thì lúc này số tiền mà NLĐ đã đóng góp trước đó khi còn làm việc sẽ được dùng để chi trả một số tiền trợ cấp gọi là lương hưu. Việc chi trả lương hưu định kì hàng tháng sẽ giúp cho người về hưu trang trải được cuộc sống của chính mình mà không phải phụ thuộc vào con cái hay xã hội. BHHT là chế độ đóng cho chính mình trong nhiều năm, đã đóng là được hưởng dù có ngừng hoặc thôi đóng, cân đối dài hạn và có tính chia sẻ không nhiều.

Cũng vì tính chất quan trọng, khác biệt và mục đích an sinh xã hội lâu dài của BHHT mà pháp luật BHXH quy định BHHT có tỷ lệ đóng cao nhất, chiếm đến 2/3 tổng số tiền đóng BHXH hiện nay.2 Các hình thức bảo hiểm hưu trí BHHT được thực hiện dưới 3 hình thức BHHT đó là BHHT bắt buộc, BHHT tự nguyện và BHHT bổ sung. BHHT bắt buộc là hình thức bảo hiểm mà NLĐ và chủ SDLĐ phải tham gia và hàng tháng cùng đóng vào quỹ hưu trí theo mức quy định để NLĐ hưởng lương hưu. Khi đủ điều kiện về tuổi và thời gian đóng BHXH, NLĐ được nghỉ hưu. Trong một số trường hợp vì điều kiện, môi trường làm việc, tính chất đặc thù công việc, NLĐ được nghỉ hưu sớm hơn từ 01-05 tuổi.

NLĐ cũng có quyền được nghỉ hưu sớm khi bị suy giảm khả năng lao động ở một mức độ nhất định phù hợp với quy định của pháp luật. BHHT tự nguyện là hình thức bảo hiểm mà NLĐ tự nguyện tham gia 9 và được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình và Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền đóng BHXH để người tham gia hưởng chế độ hưu trí. Cũng giống như loại hình BHHT bắt buộc, khi đủ điều kiện về tuổi đời và thời gian đóng BHXH thì NLĐ được nghỉ hưu. Tuy nhiên, NLĐ tham gia loại hình BHHT tự nguyện không được nghỉ hưu sớm do điều kiện lao động, tính chất công việc hoặc bị suy giảm KNLĐ.

Trên thế giới hiện nay có rất nhiều nước đang thực hiện chế độ BHHT bổ sung bên cạnh hưu trí bắt buộc và hưu trí tự nguyện. Có thể hiểu: BHHT bổ sung là một chương trình BHXH tự nguyện hoặc bắt buộc. Cơ chế tạo lập quỹ được hình thành từ sự đóng góp của NLĐ và NSDLĐ dưới hình thức các tài khoản cá nhân, được bảo toàn và tích lũy thông qua hoạt động đầu tư trên thị trường tài chính; thực hiện bởi các định chế tài chính trung gian, dưới sự giám sát của các cơ quan quản lý nhà nước.2 Một số vấn đề lý luận về Pháp luật bảo hiểm hưu trí 1.1 Khái niệm và nguyên tắc của Pháp luật bảo hiểm hưu trí 1.1 Khái niệm Pháp luật bảo hiểm hưu trí Là một bộ phận của hệ thống BHXH, chế độ hưu trí đóng vai trò quan trọng, là chính sách BHXH dài hạn dùng để đảm bảo thu nhập cho người hết tuổi lao động hoặc không còn tham gia quan hệ lao động nữa. BHHT là một biện pháp khắc phục rủi ro, đảm bảo cho NLĐ khi hết tuổi lao động có một khoản tài chính nhất định để không phải phụ thuộc vào người thân, không trở thành gánh nặng cho gia đình, cộng đồng và xã hội.

Chế độ hưu trí là chế độ BHXH dài hạn nằm ngoài quá trình lao động nhưng lại được thể hiện ngay trong quá trình lao động. NLĐ tham gia đóng BHXH trong một thời gian dài liên tục đến khi đủ về số lượng thời gian tham gia đóng BHXH theo quy định thì mới đủ một trong những điều kiện để được hưởng BHHT.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận Văn Thạc Sĩ Luật Kinh Tế: Bảo Hiểm Hưu Trí Theo Pháp Luật Bảo Hiểm Xã Hội Việt Nam Tại Thị Xã Sơn Tây, Hà Nội là một nghiên cứu chuyên sâu về chế độ bảo hiểm hưu trí theo quy định của pháp luật bảo hiểm xã hội Việt Nam, tập trung vào thực tiễn áp dụng tại thị xã Sơn Tây, Hà Nội. Tài liệu này cung cấp cái nhìn toàn diện về các quy định pháp lý, thách thức trong triển khai, và đề xuất giải pháp nhằm cải thiện hiệu quả của chế độ bảo hiểm hưu trí. Đây là nguồn tham khảo hữu ích cho các nhà nghiên cứu, sinh viên luật, và những người quan tâm đến lĩnh vực bảo hiểm xã hội.

Để mở rộng kiến thức về các chế định pháp lý khác, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ luật học chế định đồng phạm theo quy định của bộ luật hình sự năm 2015, nghiên cứu về các quy định liên quan đến đồng phạm trong luật hình sự. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ chế định kết hôn trong luật hôn nhân và gia đình vấn đề lý luận và thực tiễn cung cấp góc nhìn sâu sắc về chế định kết hôn, một khía cạnh quan trọng trong luật dân sự. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ luật học pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống là tài liệu hữu ích cho những ai quan tâm đến lĩnh vực sở hữu trí tuệ.

Mỗi liên kết trên là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn các chủ đề pháp lý đa dạng, từ đó nâng cao hiểu biết và kỹ năng chuyên môn.