Chương 1 ĐÁNH GIÁ VỀ VIỆC THỰC HIỆN VÀ ÁP DỤNG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2000 1. Bối cảnh ra đời Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 HN&GĐ là những hiện tượng xã hội được các nhà nghiên cứu quan tâm và cũng trở thành những vấn đề luôn được quan tâm ở mọi giai đoạn lịch sử ở mỗi quốc gia. Mỗi gia đình là một tế bào tạo nên xã hội. Chính vì lẽ đó, mỗi quốc gia đều quan tâm xây dựng pháp luật về HN&GĐ.
Việt Nam trải qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau. Mỗi giai đoạn lịch sử đòi hỏi có những quy định về HN&GĐ phù hợp với hoàn cảnh lịch sử, xã hội. Trước năm 1945, chế độ HN&GĐ Việt Nam được xây dựng trên cơ sở xã hội phong kiến. Cách mạng tháng 8/1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời thay thế chế độ phong kiến lạc hậu.
Tuy nhiên, sau cách mạng các quan hệ sản xuất phong kiến vẫn còn tồn tại là cơ sở của chế độ HN&GĐ phong kiến, nên việc xóa bỏ chế độ HN&GĐ phong kiến lạc hậu không phải dễ dàng. Do đó, Nhà nước ta cũng chưa ban hành văn bản luật cụ thể điều chỉnh quan hệ hôn nhân gia đình mà chỉ tiến hành vận động nhân dân tự nguyện xóa bỏ hủ tục phong kiến lạc hậu trong đời sống HN&GĐ. Qua thực tiễn của cuộc đấu tranh, phụ nữ tham gia ngày càng đông đảo vào các công việc xã hội, dần dần thoát khỏi những ràng buộc của chế độ đại gia đình phong kiến. Quyền bình đẳng giữa nam và nữ đã được Nhà nước thừa nhận và đảm bảo trong Hiến pháp năm 1946.
Tình hình kinh tế, chính trị, quân sự, xã hội đòi hỏi phải xóa bỏ một số chế định trong bộ dân luật cũ về các quan hệ HN&GĐ đang cản trở sự phát triển của xã hội. Do đó, lần lượt các sắc lệnh điều chỉnh về HN&GĐ ra đời: Sắc lệnh số 97-SL ngày 22/5/1950 về sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật và Sắc lệnh số 159-SL ngày 17/11/1950 quy định về vấn đề ly hôn. 15 Cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi (1954), nước ta vẫn còn chia hai miền Nam-Bắc. Bước đầu miền Bắc đã thực hiện cải cách ruộng đất, căn bản đã xóa bỏ quan hệ sản xuất phong kiến.
Tuy nhiên chế độ HN&GĐ phong kiến còn ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống HN&GĐ. Đòi hỏi cần ban hành văn bản Luật cụ thể nhằm xóa bỏ triệt để chế độ HN&GĐ phong kiến. Ngày 29/12/1959 Quốc hội khóa I kỳ họp thứ 11 thông qua Luật HN&GĐ và được Chủ tịch nước ký lệnh công bố ngày 13/01/1960. Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam có văn bản Luật riêng điều chỉnh các quan hệ HN&GĐ.
Mục tiêu của Luật HN&GĐ năm 1959 là xóa bỏ hoàn toàn chế độ HN&GĐ phong kiến và xây dựng được mô hình gia đình mới theo định hướng Xã hội chủ nghĩa. Luật HN&GĐ năm 1959 bao gồm 6 chương và 35 điều. Sau gần hai mươi bảy năm thực hiện Luật HN&GĐ năm 1959 về cơ bản chúng ta đã xóa bỏ chế độ HN&GĐ phong kiến và bước đầu xây dựng được mô hình hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, bình đẳng giữa vợ và chồng. Sau khi đất nước thống nhất (1975), nền kinh tế và xã hội có nhiều thay đổi, đất nước bước vào giai đoạn khôi phục hậu quả chiến tranh và xây dựng nền kinh tế.
Sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở nước ta đã giành được những thành tựu đáng kể. Tình hình kinh tế-xã hội nước ta đã thay đổi về căn bản so với những năm 1959. Luật HN&GĐ năm 1959 có nhiều điều không còn phù hợp, tất yếu cần một văn bản Luật HN&GĐ mới thay thế. Luật HN&GĐ năm 1986 ra đời trong những năm đầu thời kỳ đổi mới.
Quá trình thực hiện mục tiêu Công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước từ sau chính sách đổi mới toàn diện nền kinh tế theo hướng hội nhập nền kinh tế quốc tế đã tác động mạnh mẽ đến các quan hệ HN&GĐ. Luật HN&GĐ năm 1986 gồm có 10 chương với 57 điều. Hơn mười năm thực hiện Luật HN&GĐ năm 1986, bên cạnh những thành tựu đạt được còn nhiều hạn chế vướng mắc. Ngày 9/6/2000 tại kỳ họp thứ 7 quốc hội khóa X, Quốc hội đã thông qua Luật HN&GĐ năm 2000.
Luật HN&GĐ năm 2000 ra đời nhằm sửa đổi, bổ sung 16 Luật HN&GĐ năm 1986 một cách toàn diện, bên cạnh đó vẫn tiếp tục kế thừa và phát triển hệ thống pháp luật HN&GĐ Việt Nam. Luật HN&GĐ năm 2000 gồm 13 chương, 110 điều, được xây dựng và thực hiện trên nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng; Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, các tôn giáo, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ; Vợ chồng có nghĩa vụ thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ); Cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy con thành công dân có ích cho xã hội; con có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ; cháu có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, phụng dưỡng ông bà; các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; Nhà nước và xã hội không thừa nhận sự phân biệt đối xử giữa các con, giữa con trai và con gái, con đẻ và con nuôi, con trong giá thú và con ngoài giá thú. Những thành tựu đã đạt được trong quá trình thực hiện và áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 Sau mười một năm đưa vào triển khai, thực hiện Luật HN&GĐ năm 2000 đã đạt được những thành tựu đáng kể. Nhiều quy định của Luật đã được thực hiện tốt và đi sâu vào nhận thức của người dân.
Các nguyên tắc cơ bản của Luật HN&GĐ năm 2000 đã được thực hiện. Hôn nhân đã được xây dựng trên cơ sở tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, quyền bình đẳng giữa vợ và chồng ngày càng được nâng cao. Vai trò của người phụ nữ trong gia đình đã ngày càng được khẳng định và trở nên quan trọng. Vấn đề HN&GĐ trong các dân tộc thiểu số được quan tâm, dần loại bỏ được những hủ tục lạc hậu.
Chính sách dân số và KHHGĐ được thực hiện nghiêm túc hơn bởi ý thức tự giác xuất phát từ nhận thức của người dân. Trẻ em được quan tâm, chăm sóc cả về thể lực lẫn trí lực. Cha mẹ đã ý thức đến việc sinh đẻ và nuôi dạy con cái. Các chính sách xã hội đối với phụ nữ và trẻ em được Nhà nước đặc biệt quan tâm.
17 Tuy vẫn còn số ít người có tư tưởng trọng nam khinh nữ nhưng tình trạng phân biệt đối xử giữa con trai và con gái không còn nặng nề như trước và chỉ còn tồn tại ở bộ phận nhỏ dân cư. Đời sống người dân ngày càng nâng cao, giáo dục và hệ thống truyền thông đại chúng ngày càng phát triển góp phần đưa đường lối chính sách và pháp luật đến gần với người dân. Mặt khác, ảnh hưởng của tư tưởng tiên tiến, hiện đại từ các quốc gia trên thế giới có tác động sâu sắc đến người dân Việt Nam, đẩy lùi những tư tưởng lạc hậu. Chính những yếu tố đó góp phần quan trọng giúp người dân hiểu, tích cực thực hiện đúng và tốt các quy định của Luật HN&GĐ năm 2000.
Về kết hôn Ở khu vực thành thị hầu như nam nữ đã tuân thủ điều kiện kết hôn. Độ tuổi kết hôn đã được thực hiện nghiêm chỉnh. Theo số liệu điều tra biến động dân số thì "ở thành thị tuổi kết hôn trung bình của nam là 27,1 tuổi, nữ là 24,5 tuổi. Ở nông thôn, tuổi kết hôn trung bình ở nam là 24,6 tuổi, còn ở nữ là 22 tuổi" [66].
Hiện tượng tảo hôn tuy vẫn còn nhưng chủ yếu ở một số vùng sâu, vùng xa, dân tộc thiểu số và một số vùng nông thôn còn tồn tại hủ tục hoặc do trình độ dân trí cũng như nhận thức của người dân về hậu quả của việc tảo hôn còn chưa cao. Ví dụ: ở xã Đắc Som, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk lắk (nơi cư trú của đồng bào dân tộc Mông, K’Ho, Mường là chủ yếu), Ông A Nhè, Trưởng thôn 2, xã Đắk Som cho biết: "Dân vùng này vẫn quan niệm nếu con trai quá 16 tuổi chưa lấy vợ là loại người chơi bời, lêu lổng, không lo lập gia đình để tu chí làm ăn. Con gái 14-15 tuổi chưa lấy chồng thì bị chê là đã quá lứa mà không biết học cách sinh con" [40]. Theo Phó Bí thư Xã đoàn Đắk Som thì: "Chúng tôi cũng biết Luật Hôn nhân - Gia đình nhưng phong tục của người Mông, người Mường đã có từ lâu đời rồi nên không thể bỏ được.
Luật là một chuyện nhưng phong tục lại là một chuyện khác" [40]. Đây chính là 18 nguyên nhân dẫn đến tình trạng tảo hôn hiện nay vẫn còn và khá phổ biến ở các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa. Về sự tự nguyện trong hôn nhân: Ngày nay, nam nữ kết hôn dựa trên sự tự nguyện, hầu như không còn tình trạng "Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy" như thời kỳ phong kiến. Hôn nhân ngày nay xuất phát từ tình yêu, sự tìm hiểu lẫn nhau giữa nam và nữ.
Cha mẹ chỉ đóng vai trò hỗ trợ trong việc thực hiện các nghi lễ kết hôn chứ không quyết định hôn nhân của con cái. Về thủ tục kết hôn cũng được người dân thực hiện tốt. Các quy định về việc đăng ký kết hôn trong Luật HN&GĐ năm 2000 đã cụ thể hơn và mang tính ràng buộc cao hơn. Yêu nhau, lấy nhau và đăng ký kết hôn đã đi vào nhận thức của người dân.
Tỷ lệ nam nữ đăng ký kết hôn ngày càng cao. Ở khu vực thành thị hầu hết nam nữ khi kết hôn có đăng ký kết hôn. Tình trạng không có đăng ký kết hôn chỉ xảy ra ở một số tỉnh có dân tộc thiểu số hoặc khu vực nông thôn. Ở các vùng sâu vùng xa, dân tộc thiểu số do điều kiện đi lại khó khăn và nhận thức về tầm quan trọng của việc đăng ký kết hôn chưa cao.
Hôn nhân ở các dân tộc này chỉ cần gia đình công nhận và chỉ coi đăng ký kết hôn là thủ tục. Do đó ở những tỉnh có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống thì cán bộ tư pháp đến tận bản, làng để thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn cho người dân nhằm đảm bảo hôn nhân có đăng ký kết hôn.