Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI MUA BÁN NGƯỜI 1. Những vấn đề lý luận về tội mua bán người 1. Khái niệm tội mua bán người Mua bán người là hành vi xâm phạm trực tiếp đến nhân phẩm, danh dự của con người, coi con người như hàng hóa để mua bán, trao đổi lấy tiền hoặc lợi ích vật chất khác. Trong khoa học luật hình sự Việt Nam cũng như trong pháp luật hình sự Việt Nam thuật ngữ “buôn bán người” không được sử dụng mà thay vào đó là thuật ngữ “mua bán người”.
Theo Giáo trình Luật hình sự của Đại học Luật Hà Nội do nhà xuất bản Công an nhân dân xuất bản năm 2005 thì hành vi mua bán người được hiểu là: “Hành vi dùng tiền hoặc phương tiện thanh toán khác như tiền, ngoại tệ… để trao đổi, mua bán người như một thứ hàng hóa. Mua bán người theo từ điển Tiếng Việt được hiểu là đối tượng mua bán là con người, việc mua đi bán lại, trao đổi được hiểu là coi nạn nhân như một món hàng hóa trao đổi lấy nhằm mục đích tư lợi ích vật chất khác. Nghị định thư về phòng ngừa, trấn áp và trừng trị hành vi buôn người đặc biệt là phụ nữ và trẻ em năm 2000 đưa ra khái niệm, theo đó: “Mua bán người là việc mua bán, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp hoặc nhận người nhằm mục đích bóc lột bằng cách sử dụng hay đe dọa sử dụng vũ lực hay bằng các hình thức ép buộc, bắt cóc, lừa gạt hay lạm dụng quyền lực hoặc hoàn cảnh dễ bị tổn thương, hay bằng việc đưa hay nhận tiền hay lợi nhuận để đạt được sự đồng ý của một người để kiểm soát những người khác. Hành vi bóc lột bao gồm: việc bóc lột mại dâm người khác hoặc các hình thức bóc lột tình dục khác, các hình thức lao động hoặc dịch vụ cưỡng bức, nô lệ hoặc những hình thức tương tự nô lệ, khổ sai hoặc lấy đi các bộ phận cơ thể”.
Pháp luật Việt Nam sử dụng thuật ngữ “Mua bán người” để mô tả hành vi này, theo 6 đó Mua bán người là hành vi dùng tiền, tài sản hoặc các lợi ích vật chất khác để trao đổi người (từ đủ 16 tuổi trở lên) như một loại hàng hóa; cụ thể là một trong các hành vi sau đây: - Bán người cho người khác, không phụ thuộc vào mục đích của người mua. - Mua người để bán lại cho người khác, không phân biệt bán lại cho ai và mục đích của người mua sau này như thế nào. - Dùng người như là tài sản để trao đổi, thanh toán. - Mua người để bóc lột, cưỡng bức lao động hoặc vì các mục đích trái pháp luật khác; - Người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức cho người thực hiện một trong các hành vi mua bán người nêu trên đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán người.
Theo Điều 150 BLHS 2015 tội mua bán người có thể hiểu đó là việc đem người và nhóm người này sang một người hoặc một nhóm người khác để đổi lấy tiền, hàng hóa hoặc lợi ích vật chất khác. Đối tượng bị xâm hại : là con người từ đủ 16 tuổi trở lên, không phân biệt giới tính. Trường hợp đối tượng là người bị mua bán người dưới 16 tuổi, người phạm tội sẽ bị truy cứu TNHS về tội mua bán người dưới 16 tuổi quy định tại điều 151 BLHS năm 2015. Nếu như vậy, ý chí chủ quan của người bị mua bán ( người đó có đồng ý hay không về việc mình bị mua bán) không có ý nghĩa trong cấu thành tội mua bán người [23,tr.
Từ quy định tại Điều 150 BLHS 2015, để hướng dẫn áp dụng pháp luật được thống nhất trong việc xử lý tội mua bán người. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 02/2019 ngày 11/01/2019. Hướng dẫn áp dụng áp dụng Điều 150 về tội mua bán người của BLHS năm 2015. Tại khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 02/2019/NQ-HĐTP đã đưa ra định nghĩa về “tội mua bán người” là : “Mua bán người là việc dùng vũ lực, đe 7 dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc thủ đoạn khác thưc hiện một trong các hành vi sau đây: a) Chuyển giao người để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác; b) Tiếp nhận người để giao tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác; c) Chuyển giao người khác để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận trên cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác; d) Tiếp nhận người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận trên cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác; đ) Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác để thực hiện hành vi chuyển giao người theo hướng dẫn tại điểm a và điểm c của khoản này”.
Tác giả đồng ý với định nghĩa trên vì đã bao quát tương đối đầy đủ các hành vi của tội mua bán người và phù hợp với các tình tiết định tội được quy định tại Điều 150 BLHS 2015 và khắc phục được những hạn chế, bất cập theo quy định tại Điều 119 BLHS 1999. Để hiểu rõ hơn về khái niệm của tội phạm này, cần phân tích những dấu hiệu pháp lý của tội này như sau. Các dấu hiệu pháp lý của tội mua bán người - Khách thể của tội mua bán người: khách thể của tội phạm nói chung là những quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ tránh khỏi sự xâm hại có tính chất tội phạm nhưng bị tội phạm xâm hại đến và gây nên ( hoặc đe dọa thực tế gây nên) thiệt hại đáng kể nhất định [28,tr. Qua những trường hợp đã được cụ thể hóa trong các quy phạm pháp luật hình sự ở phần các tội phạm của BLHS, có thể hiểu khách thể của tội mua bán người là xâm phạm đến quyền tự do thân thể, danh dự, nhân phẩm của con người được pháp luật bảo vệ.
Phân tích quy định tại Điều 150 BLHS 2015 cho thấy tội mua bán người xâm hại nghiêm trọng đến các quyền cơ bản của con người, quyền được người khác tôn trọng về danh dự, nhân phẩm, tổn thương về sức khỏe và tinh thần, hơn hết là xâm phạm đến quyền tự do con người, có thể khẳng định đối tượng tác động của tội mua bán người là con người cụ thể. 8 - Mặt khách quan của tội mua bán người là mặt bên ngoài của tội phạm. Bất kỳ một tội phạm nào mặt khách quan cũng được thể hiện ra bên ngoài, phản ánh trong thế giới khách quan. Mặt khách quan của tội phạm có những dấu hiệu: về tính chất, hành vi thực hiện phạm tội gây nguy hiểm cho xã hội, hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội gây ra là không lường trước được, hệ quả nguy hiểm cho xã hội có mối quan hệ nhân quả giữa, thời gian, địa điểm, phương tiện, phương thức và công cụ thực hiện tội phạm [28,tr.
Hành vi mua bán người thể hiện ở việc dùng tiền, tài sản, hoặc lợi ích vật chất khác để trao đổi mua bán người như một thứ hàng hóa. Khi việc mua bán xảy ra người bị mua bán có thể biết bị mua bán. Trong trường hợp biết mình bị mua bán thì người bị mua bán có thể đồng tình hoặc không đồng tình. Hành vi mua bán người xâm hại đến khách thể chung của tội phạm được ghi nhận tại Điều 8 BLHS năm 2015 đó là xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế xã hội, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm đến những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật mà theo quy định của BLHS này thì phải bị xử lý hính sự.
Hành vi mua bán người xâm hại khách thể loại đó là những quan hệ xã hội được ghi nhân tại chương XIV BLHS năm 2015, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội đó, tính nguy hiểm cao của hành vi mua bán người trước hết thể hiện ở chỗ, người phạm tội có ý thức coi con người như hàng hóa để trao đổi và mua bán. Trường hợp nạn nhân có thể biết hoặc không biết về việc mua bán này, thậm chí nạn nhân đồng ý để cho người khác mua bán thì người đó vẫn bị truy cứu TNHS về tội này. Ý chí có đồng ý hay không của nạn nhân trong việc bị mua bán, vì vậy không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm của tội này. Như vậy, có thể khẳng định rằng, đối tượng bị xâm hại của tội mua bán người là từ đủ 16 tuổi trở 9 lên, không phân biệt giới tính là đối tượng của tội mua bán người.
Trường hợp đối tượng là người dưới 16 tuổi sẽ xét xử theo tội mua bán người dưới 16 mới quy định tại Điều 151 BLHS năm 2015 Điều 150 BLHS năm 2015 quy định về tội mua bán người “1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt, hoăc bằng các thủ đoạn khác thực hiện các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm, a) chuyển giao hoặc tiếp nhận người để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác; b) chuyển giao hoặc tiếp nhận người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác; c ) tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác để thực hiện hành vi quy định tại điểm a, điểm b khoản này. Tuy nhiên, do nhu cầu công việc các công ty đã “chuyển giao” các nhân viên giỏi của mình cho nhau thì không phải là phạm mua bán người. Việc con người có thỏa thuận mình trở thành “hàng hóa” để mua bán hay không như đã nhấn mạnh không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội mua bán người quy định tại Điều 150 BLHS năm 2015.
Tội phạm mua bán người hoàn thành khi người đó thực hiện hành vi mua hoặc bán người diễn ra, nghĩa là từ khi thỏa thuận mua bán đã xong (về người đó, giá trị), không cần việc trao người - tiền được diễn ra trên thực tế[2,tr.