CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 1. Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 1. Khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Theo Từ điển bách khoa Việt Nam thì “lừa đảo” được hiểu là việc “lừa bằng thủ đoạn xảo trả để chiếm lấy của cải, tài sản”. Tuy nhiên, đây chỉ là cách hiểu thông thường về khái niệm “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, xem xét hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản dưới góc độ là một hiện tượng xã hội tiêu cực.
Trong BLHS Việt Nam, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản luôn được quy định tại chương các tội xâm phạm sở hữu. Do đó, khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản phải thể hiện được đồng thời đặc điểm chung của các tội xâm phạm sở hữu và đặc điểm riêng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Căn cứ vào khái niệm tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 8 BLHS năm 2015, khoa học luật hình sự đưa ra khái niệm về các tội xâm phạm sở hữu như sau: “Các tội xâm phạm sở hữu là hành vi của người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân”1. Khái niệm đã khái quát được những đặc điểm chung về khách thể, chủ thể và mặt chủ quan của của các tội xâm phạm sở hữu.
Điều 174 BLHS năm 2015 quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau: “Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác.” Căn cứ vào quy định trên, khoa học luật hình sự đã đưa ra khái niệm về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản dưới góc độ pháp lý như sau: “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối”2. Hành vi chiếm đoạt tài sản phải được thực hiện bởi lỗi cố ý trực tiếp, tức là người phạm tội biết tài sản chiếm đoạt đang có người chiếm hữu, quản lý nhưng vẫn mong muốn biến tài sản đó thành tài sản của mình. Khái 1 Giáo trình luật hình sự Việt Nam (tập II), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội [tr.9] 2 Giáo trình luật hình sự Việt Nam (tập II), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội [tr.37] 6 niệm mới chỉ thể hiện những đặc trưng cơ bản của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản dựa trên đặc điểm của hành vi khách quan. Từ những phân tích trên, khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có thể được định nghĩa như sau: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân.2 Các dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 1.
Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thuộc nhóm các tội xâm phạm sở hữu. Do đó, khách thể loại và khách thể trực tiếp của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là quan hệ sở hữu được pháp luật bảo vệ. Quan hệ sở hữu là quan hệ xã hội trong đó quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản được tôn trọng và bảo vệ3.
Quan hệ sở hữu được xác lập giữa một bên là chủ tài sản có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản của mình và một bên là những người khác có nghĩa vụ tôn trọng quyền sở hữu của chủ tài sản đó. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản làm mất khả năng chiếm hữu, quản lý tài sản trên thực tế của chủ tài sản, vi phạm nghĩa vụ tôn trọng quyền sở hữu của chủ tài sản, qua đó xâm phạm đến quan hệ sở hữu được pháp luật bảo vệ. Mọi tội phạm đều có đối tượng tác động nhất định. Đối tượng tác động của tội phạm là bộ phận của khách thể của tội phạm, nó bị hành vi phạm tội tác động đến để gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ.
Đối tượng tác động của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tài sản4. Tài sản là đối tượng tác động của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản phải là tài sản đang nằm trong sự quản lý của chủ tài sản, bởi đặc trưng của hành vi chiếm đoạt là hành vi làm 3 Bộ luật dân sự 2005 (Điều 169) và Bộ luật dân sự 2015 (Điều 163) đều ghi nhận quyền sở hữu của cá nhân, pháp nhân và chủ thể khác được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Theo đó , không ai có thể bị hạn chế, bị tước đoạt trái pháp luật quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản của mình. 4 Tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 105 Bộ luật dân sự 2015 bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.
7 cho chủ tài sản mất hẳn khả năng chiếm hữu, quản lý tài sản trên thực tế và tạo khả năng đó cho người chiếm đoạt, vì vậy chỉ khỉ tài sản đang nằm trong sự chiếm hữu, quản lý chủ tài sản thì mới nói đến hành vi “làm mất khả năng đó”. Vì vậy, tài sản bị thất lạc (bị mất, bị bỏ quên, bị đánh rơi) không thể là đối tượng của hành vi chiếm đoạt nói chung và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng. Chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Chủ thể của tội phạm theo quy định của BLHS có thể là cá nhân hoặc pháp nhân thương mại. Pháp nhân thương mại cũng là chủ thể của tội phạm.
Đây là một quy định mới của Bộ luật hình sự khi ghi nhận pháp nhân cũng là một chủ thể của tội phạm. Pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lượi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên. Pháp nhân thương mại bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác. Đây là chủ thể đặc biệt, theo quy định của Bộ luật hình sự, pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi có đủ các điều kiện quy định tại Điều 75 của BLHS.
Tuy nhiên tại Điều 76 BLHS lại không quy định pháp nhân phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Vì vậy, pháp nhân thương mại không phải là chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Cá nhân phạm tội là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi luật định và đã thực hiện hành vi phạm tội cụ thể. Trong BLHS Việt Nam không quy định thế nào là người có năng lực trách nhiệm hình sự mà chỉ quy định độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự.
Trên cơ sở các quy định đó, khoa học luật hình sự đưa ra định nghĩa về người có năng lực trách nhiệm hình sự “là người đã đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và không thuộc trường hợp ở trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự”.5 Năng lực trách nhiệm hình sự chỉ được hình thành khi con người đã đạt độ tuổi nhất định và sẽ tiếp tục phát triển hoàn thiện trong thời gian tiếp theo. Theo BLHS Việt Nam 5 Giáo trình luật hình sự Việt Nam (tập I), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội [tr.123] 8 thì người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà BLHS có quy định khác; Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại khoản 2 Điều 12 BLHS, nghĩa là về các tội như: lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác, tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản và một số tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng khác (trong đó không bao gồm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản). Tuy nhiên, năng lực trách nhiệm hình sự cũng có thể bị hạn chế hoặc bị loại trừ hoàn toàn nếu người đó bị mắc các bệnh làm rối loạn hoạt động bình thường của bộ não. Chính vì vậy, luật hình sự ngoài việc quy định độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự còn quy định những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự.
Theo quy định tại Chương IV BLHS thì người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự mà phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh. Trong thực tiễn áp dụng, khi đánh giá về năng lực trách nhiệm hình sự của một cá nhân thì hầu như chỉ áp dụng việc xác định độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và nếu trong quá trình giải quyết các cơ quan tố tụng có sự nghi ngờ về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của người đó thì mới cần kiểm tra xem có phải là trường hợp ở trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự hay không. Căn cứ vào những quy định trên, chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chỉ có thể là người từ đủ 16 tuổi trở lên đối với mọi trường hợp phạm tội và không thuộc trường hợp không có năng lực trách nhiệm hình sự. Chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là chủ thể thường, tức là mọi cá nhân đạt độ tuổi luật định, không ở trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự và đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 174 BLHS thì đều có thể trở thành chủ thể của tội này.
9 BLHS năm 2015 quy định khác về chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.