Chương 1 LÍ LUẬN VE QUYEN BINH DANG CUA PHU NU 1. Lí luận về quyền bình dang của phụ nữ trong pháp luật quốc gia và quốc tế 1. Khái niệm quyên bình đẳng Bình dang là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực của đời sông xã hội hiện đại ngày nay trong đó có pháp luật. Quyền bình dang là một thuật ngữ pháp lý thể hiện sự pháp luật hóa quyền tự nhiên của con người.
Trong xã hội hiện đại, với nhận thức quan trọng về quyền con người thì quyền bình đẳng càng có một vai trò quan trọng trong các lĩnh vực mà pháp luật điều chỉnh. Tuy nhiên, không phải khi có pháp luật thì thuật ngữ "bình đăng" và "quyền bình đăng" đã được sử dụng mà nó xuất hiện sau khi pháp luật ra đời một thời kỳ dài. Thuật ngữ "bình dang" được xuất hiện lần đầu tiên trong thời kỳ Cách mang tư san ở Châu Âu do các nhà triết học và tư tưởng sử dụng khi luận giải về nhà nước và pháp luật. Ta có thể kể đến một số tác phẩm tiêu biểu như: Trong tác phẩm "Khao luận thứ hai về chính quyền - chính quyên dân su" của J.Locke đã luận giải về bình đẳng khi bàn về quyền con người và nguồn gốc của nhà nước.
Ông cho rằng con người có các quyền tự nhiên cơ bản như quyền tự đo, quyền bình đẳng, quyền sở hữu. Ông còn khẳng định rằng đây là những "quyền tự nhiên" cần được bảo vệ ở mọi chế độ xã hội.Do vậy, mỗi người sinh ra đều bình đăng với nhau đù có khác biệt về khả năng, hoàn cảnh sống hay của cải. Ngoài ra, thuật ngữ "bình đẳng" cũng được dé cập đến trong tác phẩm "Ban về khế ước xã hội" (Du Contrat social) của Jean - Jacques Rousseau. Trong đó có viết: "Công ước xã hội xây dựng nên sự bình dang về tinh than và pháp chế, dé thay thế cái thiên nhiên đã làm cho người không bình đẳng về thể lực.
Trên phương diện công ước và pháp quyền, con người tuy không đồng đều nhau về thân thé và trí tuệ van được hoàn toàn bình dang như nhau". "Dưới quyền cai trị của một chính phủ tôi tệ, sự bình dang chi là bé ngoài và giả tạo [22] hay tại chương XI - Các hệ thống lập pháp khác nhau, Rousseau viết: “về bình dang thì không nên hiểu là mọi mức độ quyền lực về tài sản đều phải tuyệt đối ngang nhau ”[23]. Quyền bình đẳng là thành quả đấu tranh lâu dài của nhân loại qua các thời kì lịch sử khác nhau. Năm 1776 tại Bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ đã ghi nhận: “Tát cả mọi người đều sinh ra có quyền bình dang.
Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được” nội dung đó cũng phù hợp với quy định tại Điều 1 Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền của Liên Hợp Quốc khang định: "Moi người sinh ra đều tự do và bình đẳng về phẩm giá và các quyên". Câu đầu tiên trong Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam cũng khăng định: "Tất cả mọi người sinh ra đều có quyên bình dang". Từ đó cho thay “bình dang” là một nguyên lý căn bản được chấp nhận bởi mọi quốc gia, mọi dân tộc. “Binh dang” là một khái niệm chung của cả nhân loại, nó hướng đến việc khẳng định quyền lợi ngang nhau của moi người, mọi đối tượng, mọi nhóm người trong xã hội.
Bình đẳng là mục tiêu phấn đấu của mọi dân tộc, mọi xã hội tiến bộ và là lý tưởng chung của mọi cuộc cách mạng trên thế gidi. Theo từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học (do Hoàng Phê chủ biên) được nhà xuất bản Da Nẵng và Trung tâm từ điển học phát hành năm 1997 thì bình đẳng có nghĩa là: “ngang hàng nhau về địa vị và quyên lợi. Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật. Nam nữ bình dang”.
Đối xử “bình đắng" và "quyền" có nghĩa là cái mà pháp luật, xã hội, phong tục hay lẽ phải cho phép hưởng thụ, vận dụng, thi hành. và nếu bị tước đoạt có thể đòi hỏi để giành lại. Còn theo từ điển Bách khoa Việt Nam: Bình đẳng là sự được đối xử như nhau về mặt chính trị, kinh tế, văn hóa,. không phân biệt thành phần và địa vị xã hội trong đó trước tiên và cơ bản nhất là bình đẳng trước pháp luật.
Như vậy, khái niệm bình đẳng có nghĩa là nói đến sự công bằng, ngang bằng giữa các chủ thể, được thụ hưởng quyền lợi hoặc thực hiện nghĩa vụ như nhau. Nói cách khác thì bình đẳng không có nghĩa là mọi người đều được hưởng các lợi ích như nhau trong mọi lĩnh vực, mà là bình đẳng về điều kiện, cơ hội để phát triển, khả năng của mỗi cá nhân trong xã hội; bình dang giữa các cá thé trong mỗi cộng đồng và giữa các cộng đồng với nhau. Bình đẳng được hiểu là mỗi người đều có cơ hội như nhau về mặt pháp lý để phát triển khả năng của mình. Xã hội càng tiến bộ thì tính bình đăng giữa mọi công dân càng cao.
Trong một xã hội dân chủ pháp trị, mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, kể cả tổng thống, nếu vi phạm pháp luật cũng phải ra tòa như một thường dân.Bình đẳng là mục tiêu ban đầu và lâu đài của mọi nỗ lực xây dựng xã hội, là thước đo trình độ văn minh và tiến bộ của một đất nước. Vậy quyền bình dang của phụ nữ hay nói cách khác bình dang đối với phụ nữ là gì? Quyền bình đẳng của phụ nữ được hiểu là sự công bằng, xóa bỏ mọi phân biệt đối xử vô lý với phụ nữ trong mối quan hệ tương quan với nam giới ở những điều kiện, hoàn cảnh như nhau và có tính đến đặc điểm, ưu thế tự nhiên của giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Tuy nhiên, sự bình đẳng đối với phụ nữ không phải phép so sánh tuyệt đối, linh hoạt dựa vào các yếu tố như điều kiện hoàn cảnh hay đặc điểm về gidi,. Lich sử hình thành và phát triển quyên bình đẳng của phụ nữ Trên thế giới, quan điểm giới có nguồn gốc từ các lý thuyết nữ quyền xuất hiện và phát triển rất sôi động ở các xã hội phương Tây, bắt đầu từ giữa thế kỷ XX.
Các nước đấu tranh quyết liệt đòi quyền bình đẳng cho phụ nữ tiêu biểu đó là ngày 8/3/1857 công nhân xưởng may ở New York tuần hành yêu cau nâng cao chất lượng làm việc: giảm giờ làm và những yêu cầu về quyền lợi cho phụ nữ. Lực lượng biểu tình này đã bị cảnh sát đàn áp. Và 51 năm sau, ngày 8/3/1908, để kỷ niệm cho sự kiện tháng 3/1857, một cuộc biểu tình của các nữ công nhân Mỹ đòi quyền bau cử, chấm đứt tinh trạng ngược đãi công nhân và bóc lột sức lao động trẻ em cũng bị dập tắt bởi cảnh sát New York. Năm 1910, một nhà hoạt động xã hội người Đức, Clara Zetkin, đề nghị lấy ngày 8/3 làm ngày Quốc tế Phụ nữ dé kỷ niệm những cuộc biểu tình và những cuộc dau tranh của phụ nữ trên toàn thé giới vì bình đẳng và tiến bộ của phụ nữ.
Sau đó, nhiều sự kiện đáng chú ý khác như cuộc đấu tranh lớn tại Nga vào ngày 23/2/1917 theo lịch Nga và theo lịch Công giáo, những nữ công nhân đã 6 ạt tan công khắp các đường phố của Nga. Sự kiện đó sau này được đánh giá là một trong những tác nhân châm ngòi cho Cách mạng Tháng Mười Nga. Ngoài ra, còn rất nhiều cuộc đấu tranh của phụ nữ trên thế giới cũng nổ ra vào tháng 3 lịch sử. Từ sự kiện lịch sử đó, năm 1975, Liên Hiệp Quốc đã lấy ngày 8/3 là ngày Quốc tế Phụ nữ.
Hai năm sau, Liên hợp quốc đã thông qua nghị quyết các nước thành viên kỷ niệm ngày này như là ngày vì quyền bình dang, sự tiến bộ của phụ nữ và hòa bình cho thế giới. Lý thuyết nữ quyền tạo nên các phong trào xã hội mạnh mẽ, đấu tranh chống lại sự thống trị của nam giới, phê phán quyết liệt chế độ áp bức phụ nữ, đòi quyền lợi cho phụ nữ, tạo lập bình đẳng giới. Mặc dù có chung mục đích là vì sự phát triển của phụ nữ chống lại chế độ nam trị, nhưng lý thuyết nữ quyền có nhiều trường phái khác nhau; thậm chí, có những trường phái mâu thuẫn nhau gay gắt. Có thế nêu một số lý thuyết nữ quyền có ảnh hưởng mạnh đến xã hội phương Tây thời gian qua là: Nữ quyền tự do, Nữ quyền macxit, Nữ quyền xã hội chủ nghĩa, Nữ quyền phúc lợi, Nữ quyền triệt để, Nữ quyền hiện sinh, Nữ quyền phân tim;.
và tiếp đó xuất hiện một số lý thuyết nữ quyền mới, như: Nữ quyền hậu hiện đại, Nữ quyền da đen, Nữ quyền phụ nữ thế giới thứ ba. [8] Sự kiện quan trọng khác đánh dau mốc về doi quyền bình đăng cho phụ nữ đó là ngày 18/12/1979 theo Nghị quyết 34/180, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua Công ước loại bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ và ngày 3/8/1981, Công ước có hiệu lực chính thức. Có thể nói, Công ước CEDAW được đánh giá là văn bản pháp lý quốc tế đầu tiên khang định nguyên tắc không chấp nhận sự phân biệt đối xử dựa vào giới tính. Ngoài ra, Công ước còn nêu ra các vẫn đề như quyền sinh sản của phụ nữ; vấn đề văn hóa, truyền thống có ảnh hưởng đến việc hình thành vai trò về giới và vấn đề phụ nữ có quyền nhập, giữ hoặc thay đổi quốc tịch của họ và con cái nếu họ muốn.
Có thé thấy, việc thực hiện CEDAW trong 30 năm qua đã tạo ra những chuyên biến tích cực, đạt được một số thành tựu đáng kể trong nhận thức và thực tiễn, góp phần quan trọng vào việc cải thiện vai trò của phụ nữ tại nhiều nước trên thế giới. Có thể xem sự ra đời của Công ước CEDAW là kết quả hơn 30 năm đấu tranh của Ủy ban về địa vị phụ nữ Liên hợp quốc (CSW). Ủy ban 10 được thành lập năm 1946 nhằm giám sát địa vị và nâng cao quyền lợi của phụ nữ. Hoạt động của Ủy ban đã góp phần thúc đây bình dang giới ở những nơi mà phụ nữ chưa được bình quyền như nam giới.
Kết quả của những nỗ lực vì sự tiến bộ của phụ nữ là sự ra đời một số tuyên bố và điều ước quốc tế, trong đó CEDAW là văn kiện quan trọng và toàn diện nhất về quyền bình đẳng của phụ nữ.