Chương 1 ĐỊA LÍ VÀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH ĐÔ THỊ QUẢNG YÊN 1. Địa lí đô thị Quảng Yên 1.1 Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên Quảng Yên là thị xã ven biển nằm ở phía đông nam của tỉnh Quảng Ninh, có diện tích tự nhiên 314,2km2. Vị trí toạ độ từ 20045’06” đến 21002’09” độ vĩ Bắc và 106045’30”đến 10600’59” độ kinh Đông. Phía Bắc giáp thành phố Uông Bí và huyện Hoành Bồ.
Phía Nam giáp đảo Cát Hải và cửa Nam Triệu. Phía đông giáp thành phố Hạ Long. Phía tây giáp huyện Thủy Nguyên của thành phố Hải Phòng. Thị xã Quảng Yên gồm 19 đơn vị hành chính xã, phường, trong đó khu vực nội thị bao gồm các phường Quảng Yên, Yên Giang, Cộng Hoà, Đông Mai, Minh Thành, Hà An, Tân An, Nam Hoà, Yên Hải, Phong Cốc, Phong Hải.
Khu vực ngoại thị gồm các xã Tiền An, Sông Khoai, Hiệp Hoà, Hoàng Tân, Cẩm La, Liên Hoà, Liên Vị, Tiền Phong. Địa hình chủ yếu của thị xã Quảng Yên là đồng bằng và bãi bồi ven biển có xen lẫn đỗi núi thấp của những dãy núi cánh cung Đông Triều chạy ra biển. Toàn bộ Quảng Yên gần như nằm trọn về phía một nửa delta bồi tích của sông Bạch Đằng mà nửa kia thuộc về Hải Phòng. Nhìn chung, địa hình thị xã Quảng Yên được chia làm hai vùng có diện tích gần tương đương nhau là Hà Nam và Hà Bắc với sông Chanh làm ranh giới.
Vùng Hà Bắc có địa hình chủ yếu là đồi núi bát úp, với các đồi núi thấp được phân bố ở phía bắc huyện (tập trung ở các phường Minh Thành, Đông Mai, một phần của các phường Sông Khoai, Cộng Hòa, Tiền An, Tân An và Hoàng Tân) với diện tích khoảng 6. Toàn bộ đồi núi ở đây đều được phát triển trên các đá cát, bột, sạn kết, đá phiến sét có tuổi Trias. Hiện nay, đồi núi ở đây đang bị khai thác làm vật liệu xây dựng, đặc biệt là đá vôi ở Hoàng Tân. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tuy nhiên, vùng Hà Bắc cũng có những khoảnh đồng bằng nhỏ hẹp phân bố ở các phường Đông Khoai, Minh Thành, Yên Giang, Tiền An.
Các khoảnh đồng bằng ở đây đều được cấu tạo bởi cát đến cát-bột được thành tạo vào Holoxen muộn [8]. Hiện nay được sử dụng để trồng lúa. Một nét đặc biệt ở vùng Hà Bắc là sự có mặt của một bộ phận đồng bằng cao 8-12 mét phân bố ở khu vực nghĩa trang phường Tiền An và lân cận. Đồng bằng này còn giữ được trạng thái khá bằng phẳng của nó và được cấu tạo bởi cát màu vàng.
Đối sánh với các thành tạo tương tự trên lãnh thổ Việt Nam, có thể xếp nó vào tuổi Pleistocen muộn, phần muộn (Q13-2). Hiện nay, bề mặt này được sử dụng làm đất ở và trồng bạch đàn. Vùng Hà Nam là vùng có địa hình đồng bằng thấp được bồi đắp bởi phù sa của hệ thống sông Thái Bình mang ra. Có thể chia địa hình vùng này thành 2 loại: đồng bằng thấp trong đê và bãi bồi ngoài đê.
Đồng bằng thấp trong đê phân bố chủ yếu trên đảo Hà Nam. Địa hình đồng bằng trong đê chỉ có độ cao từ 0,5 đến 2,0 mét so với mực nước biển. Trên bề mặt của nó còn có những khu vực thấp hơn, do đó, thường bị ngập úng khi có mưa nhiều. Hiện nay, địa hình ở đây được sử dụng làm đất ở, trồng lúa và các cây hoa màu, cũng như cho các mục đích khác.
Bãi bồi ven biển ở khu Hà Nam nói riêng và cả thị xã Quảng Yên nói chung có diện tích khoảng 12.300 ha (chiếm 37,1% diện tích tự nhiên của thị xã), được phân bố ở các khu vực ven biển và cửa sông, tập trung nhiều các khu đầm Nhà Mạc, đầm Soài, dọc phía bắc bờ kênh Cái Tráp, Yên Giang, phía tây-nam sông Hốt thuộc các phường Hoàng Tân, Tiền An. Các bãi bồi ven biển được cấu tạo chủ yếu bởi bùn và bị chia cắt bởi các lạch triều. Hiện nay, các bãi bồi này đang được sử dụng nuôi trồng hải sản và rừng ngập mặn. Đây chính là thế mạnh để thị xã Quảng Yên phát triển kinh tế cả trong thời gian vừa qua, cũng như trong những năm tới.
Đất đồi núi có 6100 ha, chiếm 15,3% diện tích Quảng Yên, phân bố ở khu vực phía Bắc thị xã, tập trung ở các phường Minh Thành, Đông Mai và một phần ở các phường Sông Khoai, Cộng Hoà, Tân An, Tiền An, Hoàng Tân. Đất bao gồm chủ yếu là đất feralit vàng đỏ trên đá mắcma axit và đất feralit nâu vàng, xám vàng trên các đá trầm tích sa thạch, phiến thạch, đá vôi. Đất có tầng dày trung bình từ 60- 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 80cm, thành phần cơ giới từ thịt nhẹ tới trung bình, độ PH từ 4 đến 4,5%, hiện chủ yếu là đất rừng, đất trồng cây ăn quả. Đất đồng bằng có gần 14.800ha, chiếm 44,6% diện tích đất đai; gồm chủ yếu là đất phù sa cổ và đất phù sa cũ nằm trong đê, phân bố ở hầu hết các phường trong thị xã nhưng tập trung ở khu vực Hà Nam.
Đất có thành phần cơ giới trung bình đến nặng, độ PH dưới 4,5%, hàm lượng mùn trung bình. Một số điểm nội đồng đất trũng bị ngập nước mùa mưa nên gley mạnh, đất chua hàm lượng mùn thấp. Hiện đất được sử dụng chủ yếu để trồng cây lương thực thực phẩm, trồng lúa cho hai vụ. Thị xã Quảng Yên có bờ biển chạy dài hơn 30km với nhiều cửa sông, bãi triều, vịnh là nơi trú ngụ của nhiều loại hải sản cho giá trị kinh tế cao.
Ngư dân Quảng Yên có thể vươn ra các ngư trường lớn như Cô Tô, Bạch Long Vỹ, Cát Bà. Đất bãi bồi ở cửa sông, ven biển gồm các loại đất mặn và đất cát có gần 12.300ha, chiếm 37,1% diện tích, phân bố ở khu vực ven biển và cửa sông. Phần lớn đất hiện được sử dụng để nuôi trồng thuỷ sản, phần còn lại là đất rừng ngập mặn có sú vẹt và đất hoang hoá. Thị xã Quảng Yên có đặc trưng khí hậu của vùng ven biển miền Bắc Việt Nam, khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh.
Nhiệt độ trung bình hàng năm 23-340C, biên độ nhiệt theo mùa trung bình 6-70C, biên độ nhiệt ngày khá lớn, trung bình 9-110C. Số giờ nắng dồi dào, trung bình 1700-1800 giờ/năm, số ngày nắng tập trung nhiều vào tháng 5 đến tháng 12, tháng có số giờ nắng cao nhất là tháng 2 và tháng 3. Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1500-1600mm, cao nhất có thể lên đến 2600mm, mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, tập trung 88% tổng lượng mưa cả năm, số ngày mưa trung bình hàng năm 160-170 ngày. Độ ẩm không khí trung bình hàng năm khá cao: 81%, cao nhất vào tháng 3 và tháng 4, lên tới 86%, xuống thấp nhất 70% vào tháng 10, tháng 11.
Khí hậu ở Quảng Yên phân làm hai mùa rõ rệt, mùa hè nóng ẩm và mưa nhiều, mùa đông lạnh và khô. Mùa hè từ tháng 5 đến tháng 10, thời tiết nắng nóng, nhiệt độ cao nhất vào tháng 7, trung bình là 28-290C, cao nhất có thể lên tới 380C, gió nam và đông nam thổi mạnh, tốc độ trung bình 2- 4m/s, gây mưa nhiều, độ ẩm lớn. Mùa đông từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, gió 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mùa đông bắc thổi nhiều đợt và mạnh, mỗi đợt 4 đến 6 ngày, tốc độ gió lên tới cấp 5, cấp 6, ngoài khơi cấp 7, cấp 8 làm thời tiết lạnh, nhiệt độ thấp nhất vào tháng 1, tháng 12 có thể xuống tới 30C. Bão là một hiện tượng thời tiết đặc biệt trong vùng.
Bão thường bắt đầu xuất hiện vào tháng 6 (có khi vào tháng 5) và kết thúc vào tháng 10 (có khi tháng 11). Sông ngòi ở Quảng Yên khá dày, hầu hết chảy theo hướng tây bắc – đông nam rồi đổ ra biển qua các cửa sông. Lớn nhất là sông Bạch Đằng do sông Giá và sông Đá Bạc hợp thành, dòng chính dài khoảng 8km, đổ ra biển ở cửa Nam Triệu. Sông Chanh là một chi lưu của sông Bạch Đằng, đổ ra biển ở cửa lạch thị xã.
Ngoài ra còn một số sông nhỏ khác như: sông Khoai, sông Hốt, sông Bến Giang, sông Bình Hương và sông Yên Lập, các sông này đều ngắn, diện tích lưu vực nhỏ. Chế độ thủy văn của các sông này chịu tác động mạnh theo mùa và phụ thuộc rất nhiều vào chế độ thủy văn của hệ thống sông Hồng - sông Thái Bình. Hàng năm, hệ thống sông này mang ra vùng biển Hải Phòng - Quảng Yên khoảng 10-11 tỷ m3 nước và khoảng 4,0 triệu tấn phù sa. Tuy nhiên, do nằm gần biển, nên nước sông hầu hết là mặn - lợ thuận lợi cho nuôi trồng hải sản và bất lợi cho sản xuất nông nghiệp.
Nguồn nước ngầm khá phong phú, mạch nước ngầm thường nằm ở độ sâu 5-6m, khu vực Hà Nam và ven biển nước bị ngấm mặn, ít sử dụng được, khu vực Hà Bắc nước ngọt đủ để khai thác và sử dụng cho sinh hoạt. Hồ Yên Lập có dung tích thường xuyên 127,5 triệu m3 cung cấp nước qua 28,4km kênh chính dẫn nước tới hầu hết các phường trong thị xã, chủ yếu cho sản xuất và sinh hoạt của dân cư. Tài nguyên khoáng sản ở Quảng Yên chỉ có một số mỏ nhỏ gồm: đá vôi phân bố chủ yếu trên đảo phường Hoàng Tân, trữ lượng trên 1 triệu m3. Đất sét có ở phường Sông Khoai, Minh Thành, Đông Mai, Tiền An, Cộng Hoà, trữ lượng tổng cộng khoảng trên 1 triệu m3.
Cát sỏi xây dựng phân bố chủ yếu rải rác ven sông trong thị xã, trữ lượng vài triệu m3. Than đá có một vỉa nhỏ nằm trong khu vực Đá Chồng phường Minh Thành, trữ lượng khoảng 20 - 30 vạn tấn. Tài nguyên rừng ở Quảng Yên chiếm diện tích không lớn, phân bố tập trung ở khu vực đồi núi cao phía bắc giáp Hoành Bồ. Diện tích rừng hiện có 6300ha, 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chiếm 18,7% diện tích toàn thị xã, trong đó rừng tự nhiên có 2800ha phần lớn là rừng thứ sinh; rừng trồng có 3500ha, trong đó rừng sản xuất có 2700ha và rừng phòng hộ ven biển 800ha.
Điều kiện kinh tế - xã hội Dân số của th ị xã Quảng Yên tính đế n ngày 31/12/2010 là 139.596 người (dân số thường trú là 133. Mật độ dân số trung bình là 437 người/km2 và phân bố không đều. Tại các phường như Quảng Yên, Cộng Hoà, Hiệp Hoà, Tiền An, Cẩm La, Phong Hải dân cư tập trung đông, với mật độ trên 700–1.000 người/km2. Ngược lại, ở các xã phường như Minh Thành, Đông Mai, Tân An, Hà An, Liên Hoà, Liên Vị.