CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC THANH, KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG CƠ BẢN 1. Khái quát về Thanh, kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp. Khái niệm và đặc điểm thanh, kiểm tra thuế 1. Khái niệm thanh tra, kiểm tra thuế.
Hoạt động quản lý Nhà nước chính là sự tác động có định hướng của chủ thể quản lý (cơ quan thuế) tới các đối tượng quản lý (Đối tượng nộp thuế) nhằm đạt được mục tiêu động viên một phần thu nhập quốc dân vào NSNN. Do vậy thanh tra, kiểm tra thuế chính là một công đoạn và là một yếu tố cấu thành của hoạt động Lãnh đạo quản lý Nhà nước của cơ quan thuế. Hoạt động quản lý của cơ quan thuế bao gồm từ việc xây dựng các mục tiêu kế hoạch trong giai đoạn nhất định đến việc tổ chức để thực hiện các mục tiêu kế hoạch đó và sau cùng là tiến hành thanh tra, kiểm tra thuế, việc thực hiện đó như thế nào để từ đó tác động ngược trở lại từ khâu xác định chủ trương kế hoạch có hợp lý hay không nhằm đảm bảo cho hoạt động của cơ quan thuế đạt được hiệu quả cao. Thanh tra, kiểm tra thuế là một trong bốn chức năng cơ bản của quản lý thuế theo mô hình chức năng.
Bên cạnh việc tôn trọng kết quả tự tính, tự khai tự nộp thuế của người nộp thuế, cơ quan thuế thực hiện các biện pháp giám sát hiệu quả vừa đảm bảo khuyến khích sự tuân thủ tự nguyện, vừa đảm bảo phát hiện ngăn ngừa các trường hợp vi phạm pháp luật thuế. Thanh tra, kiểm tra thuế là một biện pháp hữu hiệu nhằm phát hiện ngăn ngừa vi phạm, giúp người nộp thuế nhận thấy luôn có một hệ thống giám sát hiệu quả tồn tại và kịp thời phát hiện các hành vi vi phạm của họ. Thanh tra, kiểm tra thuế là hoạt động giám sát của cơ quan thuế đối với các hoạt động, giao dịch liên quan đến phát sinh nghĩa vụ thuế và tình hình thực hiện thủ tục hành chính thuế, chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của người nộp thuế, nhằm bảo đảm pháp luật thuế được thực thi nghiêm chỉnh trong đời sống kinh tế – xã hội. Các yêu cầu, nguyên tắc và phương pháp thanh, kiểm tra thuế.
Yêu cầu của thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp. Thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp là một trong những nội dung của công tác quản lý thuế, do đó cần quán triệt các yêu cầu của quản lý thuế nói chung và yêu cầu riêng của thanh tra, kiểm tra: Một là, việc lựa chọn doanh nghiệp đưa vào diện thanh tra, kiểm tra cần khách quan xuất phát từ yêu cầu quản lý và thực tế hoạt động của doanh nghiệp. Hai là, quyết định thanh tra, kiểm tra cần được công bố công khai và đảm bảo tính pháp lý. Ba là, thanh tra, kiểm tra cần được tiến hành theo đúng quy trình, thủ tục do pháp luật quy định.
Cơ quan thuế, đoàn thanh tra không được đặt thêm yêu cầu về thủ tục, hồ sơ đối với doanh nghiệp thuộc đối tượng thanh tra, kiểm tra. Bốn là, đoàn thanh tra chỉ tiến hành thanh tra, kiểm tra thuế trong phạm vi các công việc đã nêu trong quyết định thanh tra. Nếu phát sinh thêm các vấn đề mới, đoàn thanh tra cần đề xuất ý kiến giải quyết của cơ quan có thẩm quyền. Năm là, cần tôn trọng các ý kiến hoặc đề xuất của doanh nghiệp, cần tôn trọng các căn cứ khách quan, tránh áp đặt theo ý kiến chủ quan của cán bộ thanh tra, kiểm tra.
Sáu là, kết luận thanh tra, kiểm tra cần được công bố công khai cho NNT biết và xác nhận vào biên bản thanh tra, kiểm tra. Các nguyên tắc của thanh tra, kiểm tra thuế. Bất kỳ một hoạt động kinh tế - xã hội hay hoạt động quản lý nhà nước nào cũng đều phải tuân theo những nguyên tắc nhất định. Trong đó, hoạt động thanh tra, kiểm tra phải tuân theo những nguyên tắc sau: - Nguyên tắc tuân thủ pháp luật: 8 Thanh tra, kiểm tra thuế là kiểm tra việc thực hiện pháp luật của đối tượng nộp thuế, do đó phải tuân theo nguyên tắc tuân thủ pháp luật.
Nguyên tắc tuân thủ pháp luật đề cao trách nhiệm của chủ thể kiểm tra; nâng cao hiệu lực của công tác thanh tra, kiểm tra thuế; ngăn chặn tình trạng làm trái pháp luật. Các cơ quan, cán bộ thanh tra, kiểm tra thuế phải thực hiện đúng chức năng, trách nhiệm, quyền hạn mà pháp luật quy định; xem xét sự đúng sai của đối tượng kiểm tra, phải căn cứ vào quy định của pháp luật, không tuân theo ý kiến của bất cứ cơ quan nào. - Nguyên tắc công khai, dân chủ Tính công khai trong thanh tra, kiểm tra thuế tức là phải thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” để thu hút sự tham gia, đồng tình ủng hộ của nhân dân. Tính công khai được thể hiện ở những vấn đề như: công khai quyết định thanh tra, kiểm tra, tiếp xúc công khai với các đối tượng có liên quan và công bố công khai kết luận kiểm tra.
Trong tuỳ trường hợp cụ thể, việc xác định phạm vi công khai và hình thức công khai cho phù hợp để đảm bảo giữ gìn bí mật quốc gia, bí mật người tố cáo, đảm bảo lợi ích của Nhà nước và công dân, đảm bảo hiệu quả kiểm tra cao nhất. Tính dân chủ trong hoạt động kiểm tra thể hiện sự tôn trọng khách quan, tôn trọng quần chúng, lấy dân làm gốc. Điều đó đòi hỏi phải coi trọng việc tiếp nhận, thu thập ý kiến của mọi đối tượng có liên quan, tạo điều kiện cho đối tượng kiểm tra được trình bày ý kiến của mình. - Nguyên tắc trung thực, chính xác, khách quan.
Nguyên tắc trung thực, chính xác, khách quan đóng vai trò rất quan trọng trong công tác kiểm tra, đảm bảo đánh giá đúng thực trạng của đối tượng kiểm tra, xử lý các sự việc theo đúng pháp luật. Nguyên tắc chính xác, khách quan đòi hỏi hoạt kiểm tra phải tôn trọng sự thật, đánh giá sự vật, hiện tượng như nó vốn có và phải thực hiện một cách thận trọng. 9 Nguyên tắc trung thực đòi hỏi hoạt động kiểm tra phải phản ánh đúng bản chất của sự vật, hiện tượng; khi có đủ căn cứ mới được phép đưa ra quyết định. Quyết định đưa ra không vì quyền lợi cá nhân; đồng thời phải tỉ mỉ, cẩn thận và có kiến thức chuyên môn vững vàng, hiểu biết sâu rộng và sâu sát với thực tiễn.
- Nguyên tắc bảo vệ bí mật Cần quán triệt nguyên tắc này trong thanh tra, kiểm tra thuế, những cán bộ kiểm tra thuế thường xuyên tiếp cận với nhiều vấn đề, nhiều tài liệu bí mật, bí quyết kinh doanh của Doanh nghiệp (DN), bí mật quốc gia. Việc giữ bí mật thông tin được phản ánh trong hồ sơ khai thuế của NNT trừ các trường hợp công khai thông tin vi phạm pháp luật về thuế của người nộp thuế theo quy định tại Điều 74 Luật Quản lý thuế. Nếu những thông tin bí mật bị lộ thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới lợi ích tổ chức, quốc gia. Các cán bộ thanh tra, kiểm tra thuế chỉ được báo cáo cho những người có thẩm quyền biết, đảm bảo tính bí mật đối với những thông tin quan trọng trong quá trình thanh tra, kiểm tra.
- Nguyên tắc hiệu quả Nguyên tắc hiệu quả là nguyên tắc được đặt ra trong hầu hết các hoạt động quản lý. Trong hoạt động kiểm tra thuế, nguyên tắc hiệu quả phải được chú trọng, hiệu quả được xác định trên cơ sở so sánh giữa kết quả đạt được với nguồn lực chi phí đã bỏ ra hoặc được xem xét trên cơ sở tác động thực tế của hoạt động này đến các mục tiêu quản lý thuế. Về phương pháp thanh tra, kiểm tra thuế: Thanh tra, kiểm tra thuế đều phải tiến hành các hoạt động phân tích rủi ro, truy lần lại việc xử lý dữ liệu, tính toán lại và xác minh tính đúng đắn của số liệu; xem xét thực tế hoạt động của đối tượng nộp thuế để phát hiện phân tích, đánh giá thực trạng một cách chính xác, khách quan, làm rõ đúng, sai, chỉ rõ nguyên nhân để có biện pháp khắc phục, xử lý vi phạm. 10 - Hoạt động kiểm tra, thanh tra thuế không chỉ được thực hiện ở một giai đoạn trong hoạt động quản lý thuế mà nó được thực hiện ở tất cả các giai đoạn, các khâu của quản lý thuế.
Phương pháp thanh tra, kiểm tra thuế đóng vai trò quan trọng trong việc phát huy hiệu quả của công tác kiểm tra thuế. Những phương pháp được sử dụng bao gồm: - Phương pháp vận dụng kỹ thuật quản lý rủi ro Bất cứ hoạt động nào cũng chứa đựng trong nó những rủi ro tiềm ẩn, nó có thể đến từ mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Xét riêng trong lĩnh vực quản lý thuế, rủi ro được hiểu là những tổn thất có thể xảy ra phát sinh từ các hoạt động không tuân thủ pháp luật thuế trong một môi trường, hoàn cảnh cụ thể. Quản lý rủi ro là một quá trình nhận diện, đánh giá, phân tích để có phương án giải quyết một cách có hệ thống nhằm tối đa hoá khả năng xảy ra khi có hệ quả tích cực và tối thiểu hoá khả năng xảy ra khi có hệ quả tiêu cực.
Quản lý rủi ro có thể được hiểu là quá trình lựa chọn và thực hiện các giải pháp trong bối cảnh nguồn lực có hạn để giảm thiểu nguy cơ xấu đe doạ đến sự thành công của một tổ chức. Quản lý rủi ro cũng là một quá trình đo lường hay đánh giá về quy mô và tính chất nghiêm trọng của một sự việc, một hiện tượng, một vấn đề, trên cơ sở đó lập chiến lược quản lý rủi ro. Như vậy, điều quan trọng trong quản lý rủi ro là dành ưu tiên mọi nguồn lực vào quản lý những rủi ro có thể gây ra tổn thất lớn nhất và những rủi ro có nhiều khả năng xảy ra nhất, tiếp đến là quản lý những rủi ro có tổn thất thấp hơn và ít có khả năng xảy ra hơn. Việc áp dụng kỹ thuật quản lý rủi ro trong kiểm tra thuế thực chất là việc phân loại, đánh giá NNT dựa trên hệ thống những tiêu thức rủi ro về thuế nhằm xác định những NNT có mức độ tuân thủ thấp và khả năng gian lận cao về thuế để tập trung nguồn lực kiểm tra theo nguyên tắc ưu tiên nguồn lực để kiểm tra những NNT có thể mang lại tổn thất lớn nhất và những sai phạm có nhiều khả năng xảy ra nhất.