Chương I : Cơ sở lý luận về thẻ thanh toán tại NHTM Chương II : Thực trạng phát triển thẻ thanh toán tại NHTMCP CTVN Chương III : Giải pháp phát triển thẻ thanh toán tại NHTMCP CTVN CHƢƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN THẺ THANH TOÁN TẠI NHTM 1.Tổng quan về thẻ thanh toán 1. Lịch sử hình thành và phát triển thẻ thanh toán trên thế giới Thẻ thanh toán là một trong những thành tựu của ngành công nghiệp ngân hàng. Đó là cuộc cách mạng trong lĩnh vực tài chính cá nhân và sẽ không có sự bùng nổ trong bán lẻ vào những năm 1970 và 1980 nếu không có sự ra đời của thẻ. Sự phát triển của thẻ là thành quả của sự đổi mới và khả năng marketing của các chuyên gia ngân hàng thế giới.Thẻ thanh toán xuất hiện đầu tiên ở Mỹ vào đầu thế kỷ 20.Nó ra đời năm 1914, khi đó Tổng công ty xăng dầu Califonia cấp thẻ cho nhân viên và một số khách hàng của mình với mục đích chủ yếu là khuyến khích bán sản phẩm của công ty.Loại hình đầu tiên của thẻ thanh toán ra đời vào năm 1945.
Đó là ChargeIt của ngân hàng John Biggins (Mỹ), cho phép khách hàng dùng thẻ mua hàng tại những nơi bán lẻ. Còn các nhà kinh doanh phải ký quỹ tại ngân hàng Biggins và ngân hàng sẽthu tiền thanh toán từ phía khách hàng để hoàn trả cho nhà kinh doanh. Loại hình này cũng chính là tiền đề cho việc phát hành thẻ tín dụng đầu tiên của ngân hàng Franklin National vào năm 1951. Đến năm 1955, hàng loạt thẻ mới xuất hiện ở Mỹ như: Trip Charge, Golden Key, Gourmet Club, Esquire Club.
Năm 1958, thẻ Card Balanche, American Express ra đời và thống lĩnh thị trường.Năm 1960, ngân hàng lớn của Mỹ là Bank of America đã phát hành thẻBank Americard. Sau đó, ngân hàng này đã bắt đầu cấp giấy phép cho các định chế tài chính trong khu vực để phát hành thẻ mang thương hiệu Bank Americard và xây dựng một số quy định và tiêu chuẩn riêng đối với các định chế tài chính khi phát hành thẻ. Năm 1966, để cạnh tranh với sự thành công của ngân hàng Bank of America, mười bốn ngân hàng lớn của Mỹ thành lập Hiệp hội thẻ liên ngân hàng quốc tế(Interbank Card Association ICA) và cho ra đời thẻ Master Charge. Năm 1977, Bank America đổi tên Visa USA và sau đó trở thành tổ chức thẻ quốc tế Visa.Ngày nay, thẻ Visa đã trở thành thẻ có quy mô lớn và được nhiều người sử dụng nhất trên thế giới.
Năm 1979, Master Charge đổi tên thành MasterCard và trở thành tổ chức thẻ quốc tế lớn thứ 2 trên thế giới, là đối thủ cạnh tranh chủ yếu của thẻ Visa ngày nay, góp phần đưa thị trường thẻ thanh toán ngày càng phát triển trên toàn cầu. Trên thế giới hiện nay có 4 tổ chức thẻ quốc tế lớn nhất là Visa, MasterCard, AMEX, JCB cùng với nhiều công ty và ngân hàng liên kết nhau cung ứng nhiều sản phẩm thẻ đa dạng, phong phú trên thị trường. Thẻ Diners Club, thẻ du lịch và giải trí T&E (Travel & Entertainment) đầu tiên do tổ chức thẻ tự phát hành vào năm 1949 ở Mỹ, xuất hiện đầu tiên ở Nhật Bản vào năm 1960, chi nhánh được quản lý bởi Citi Cop, người đứng đầu trong số ngân hàng phát hành thẻ. Năm 1990 có 6,9 triệu người sử dụng thẻ Diners Club trên toàn thế giới với doanh số khoảng 16 tỷ dollars.
Hiện nay số người sử dụng thẻ Diners Club đang giảm dần đến năm 1993 tổng doanh số chỉ còn khoảng 7,9 tỷ với khoảng 1,5 triệu thẻ lưu hành. Thẻ American Express (Amex) ra đời vào năm 1958, tổ chức American Express phát hành thẻ Green Amex, không có hạn mức tín dụng, chủ thẻ được chi dùng và có trách nhiệm thanh toán một lần vào cuối tháng. Năm 1987, Amex cho ra đời thêm ba loại thẻ: Amex Gold, Amex Platium, và Optima có hạn mức tín dụng tuần hoàn để cạnh tranh với thẻ VISA và MasterCard. American Express hiện là tổ chức thẻ du lịch và giải trí lớn nhất thế giới, trực tiếp phát hành và quản lý chủ thẻ, không cấp giấy phép thành viên cho các công ty tài chính ngân hàng.Tổng số thẻ phát hành hiện có gấp 5 lần Diners Club và gấp 2 lần JCB.
Năm 1990 tổng doanh thu chỉ khoảng 111,5 triệu dollars với khoảng 36,5 triệu thẻ lưu hành. Nhưng đến năm 1993 thì tổng doanh thu lên khoảng 124 tỷ dollars với 35,4 triệu thẻ lưu hành và 3,6 triệu cơ sở chấp nhận thanh toán. Thẻ JCB (the Japanbased) là thẻ phát hành tại Nhật Bản năm 1961 bởi ngân hàng Sanwa và bắt đầu phát triển thành một tổ chức thẻ quốc tế vào năm 1981. Thẻ JCB đã phát triển rất nhanh và là đối thủ cạnh tranh của American Express trong thị trường giải trí và du lịch.
Năm 1990 JCB đã phát hành được 17 triệu thẻ với doanh số thanh toán khoảng 16,5 tỷ USD. Năm 1992, JCB có 27,5 triệu thẻ, khoảng 2,9 triệu cơ sở chấp nhận thanh toán và 160.000 máy rút tiền tự động ATM. Cũng giống như Amex, JCB phát hành loại thẻ độc quyền của riêng mình và quản lý trực tiếp đến khách hàng (chủ thẻ và điểm tiếp nhận thẻ). Thẻ Visa là loại thẻ có quy mô phát triển lớn nhất trên toàn cầu.
Cuối năm 1990 có 257 triệu thẻ Visa đang lưu hành với doanh thu khoảng 354 tỷ dollars. Cuối năm 1993 doanh thu của thẻ Visa đã tăng lên đến 542 tỷ dollars. Hệ thống máy rút tiền tự động của Visa khoảng 164.000 máy ATM ở 65 nước trên thế giới. Visa không trực tiếp phát hành thẻ mà giao lại cho các thành viên, đây là điều kiện thuận lợi giúp cho Visa dễ dàng mở rộng thị trường hơn các loại thẻ khác.
Hiện nay Visa có 22.000 thành viên tại hơn 200 nước, đã phát hành hơn 500 triệu thẻ, 13 triệu CSCNT, 320.000 máy rút tiền mặt, doanh số giao dịch hàng năm đạt 800 tỷ dollars. Thẻ Master làloại thẻ có quy mô lớn trên thế giới. Cũng giống như Visa, MasterCard là một hiệp hội tài chính quốc tế riêng biệt, không quan hệ trực tiếp với chủ thẻ mà chỉ quản lý tất cả các thành viên phát hành thẻ. Đến năm 1990, MasterCard đã phát hành hơn 178 triệu thẻ với trên 5.000 thành viên phát hành thẻ và khoảng 9 triệu CSCNT thanh toán trên toàn thế giới.
Đến năm 1993, tổng doanh thu của MasterCard lên tới 320,6 tỷ dollars và phát hành được 215,8 triệu thẻ đang lưu hành tại 220 nước. Cho đến nay số lượng thành viên tham gia vào hiệp hội MasterCard đã lên đến hơn 29.000 thành viên, mạng lưới rút tiền mặt đã được triển khai rộng rãi với hơn 162.000 ATM đặt tại hơn 192.000 chi nhánh ngân hàng trên thế giới. Khái niệm thẻ thanh toán Thẻ thanh toán Payment Card (sau đây sẽ viết tắt là PC) là tên gọi chung cho các thẻ do các tổ chức tài chính ngân hàng phát hành, có tác dụng như là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt mà người chủ thẻ có thể sử dụng để rút tiền mặt hoặc thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ tại các điểm rút tiền và các điểm chấp nhận thanh toán bằng thẻ. Trong Quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗtrợ hoạt động thẻ ngân hàng ban hành kèm theo Quyết định số 20/2007/QĐNHNNngày 15/05/2007 của NHNN Việt Nam khái niệm thẻ thanh toán được quy định nhưsau: “Thẻ ngân hàng là phương tiện do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiệngiao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản được các bên thỏa thuận”.
Đặc điểm thẻ thanh toán Tiện lợi :thẻ thanh toán như là một chiếc ví điện tử, giúp chủ thẻ thanh toán hàng hóa dịch vụ ở bất kỳ đâu mà không cần phải mang theo tiền mặt hoặc Séc du lịch (Travel Cheque). Thẻ thanh toán được xem như là một phương tiện thanh toán tiện lợi nhất hiện nay, đặc biệt đối với những người hay đi công tác, đi du lịch. An toàn: người sử dụng thẻ có thể yên tâm về số tiền trong thẻ của mình trước nguy cơ bị mất cắp do móc túi hay cướp giật. Ngay cả khi bị mất thẻ thì tiền của chủ thẻ cũng sẽ được ngân hàng bảo vệ thông qua mã PIN, chứng minh nhân dân, ảnh, chữ ký trên thẻ, các thông tin của chủ thẻ,… Nhanh chóng : hầu hết các giao dịch của thẻ đều được thực hiện qua mạng kết nối trực tuyến từ cơ sở chấp nhận thẻ, các điểm rút tiền mặt đến ngân hàng, đơn vị phát hành thẻ, tổ chức thẻ quốc tế nên việc ghi nợ, ghi có cho các chủ thể tham gia quá trình thanh toán được thực hiện tự động, vì vậy quá trình thanh toán diễn ra dễ dàng, nhanh chóng, thuận lợi.
Linh hoạt : thẻ thanh toán có nhiều loại, đa dạng, phong phú về hạn mức sử dụng nên thích hợp với hầu hết đối tượng khách hàng, từ khách hàng có thu nhập thấp đến khách hàng có thu nhập cao, khách hàng có nhu cầu rút tiền mặt hay nhu cầu giải trí, mua sắm,du lịch… thỏa mãn nhu cầu của mọi đối tượng khách hàng. Phân loại thẻ thanh toán Các loại hình về thẻ thanh toán rất đa dạng, phong phú, chúng ta có thể phân loại thẻ dựa trên những tiêu chí sau đây: Xét theo công nghệ sản xuất: thẻ có 3 loại: + Thẻ khắc chữ nổi (embossed card): Đây là loại thẻ sơ khai ban đầu, được làm dựa trên kỹ thuật khắc chữ nổi. Trên bề mặt thẻ được khắc nổi các thông tin cần thiết. Hiện nay loại thẻ này không được sử dụng nữa do kỹ thuật sản xuất thô sơ, tính bảo mật kém và dễ làm giả.
+ Thẻ băng từ (magnetic stripe): Là loại thẻ được sản xuất dựa trên kỹ thuật thư tín, thẻ được phủ một băng từ chứa 2 hoặc 3 rãnh để ghi những thông tin cần thiết đã được mã hóa, các thông tin này thường là thông tin cố định về chủ thẻ và số liệu kết nối. Loại thẻ này được sử dụng phổ biến trong vòng 20 năm nay nhưng trong thời đại trình độ khoa học công nghệ phát triển cao nó cũng đã bộc lộ một số nhược điểm như: tính bảo mật không an toàn, kẻ gian có thể lợi dụng đọc được thông tin và làm thẻ giả, hoặc tạo các giao dịch giả gây thiệt hại cho chủ thẻ và ngân hàng. + Thẻ thông minh (smart card, chip card): Loại thẻ này được sản xuất dựa trên kỹ thuật vi xử lý nhờ gắn một chip điện tử theo nguyên tắc xử lý như một máy tính nhỏ, dữ liệu, thông tin liên quan đến khách hàng sẽ lưu trữ trong bộ nhớ điện tử “chip”.