Chương 1: Tổng quan những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài Chương 2: Làng Tam Á và những yếu tố cấu thành không gian văn hóa làng Tam Á Chương 3: Những yếu tố văn hóa vật thể, phi vật thể và phương hướng bảo tồn, phát triển không gian văn hóa làng Tam Á 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1 TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Khái niệm văn hóa Văn hóa đã và đang trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và nhân văn. Vì thế, đã có rất nhiều định nghĩa về “Văn hóa”.
Ở đây, tác giả chỉ xin đưa ra một số định nghĩa cơ bản về văn hóa như sau: Thứ nhất, theo cách hiểu rộng nhất: Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra. Theo khái niệm này, có thể thấy văn hóa bao gồm cả vật chất và tinh thần, cả kinh tế lẫn xã hội. Thứ hai, trong bản tuyên bố chung tại Hội nghị quốc tế ở Mêhicô do UNESCO chủ trì họp từ 26/7 đến 6/8 năm 1982, người ta chấp nhận một quan niệm về văn hóa như sau: "Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng" [58].
Theo Tổng giám đốc UNESCO F.May-ơ (Federico Mayor Zaagoza) cũng có quan niệm về văn hóa nêu ra trong một bài viết của ông như sau: "Văn hóa là tổng thể sống động của các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc" [7]. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thứ ba, ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh có quan niệm về văn hóa như sau: "Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng - Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa" [32; tr. 431] Dưới góc độ tiếp cận xem lao động sáng tạo là cội nguồn, khởi điểm của văn hóa hướng về các giá trị nhân bản nhằm hoàn thiện con người, nhà nghiên cứu Hoàng Vinh đã có quan niệm xác đáng rằng: "Văn hóa là toàn bộ sáng tạo của con người, tích lũy lại trong quá trình hoạt động thực tiễn xã hội, được đúc kết thành hệ giá trị và chuẩn mực xã hội, biểu hiện thông qua vốn di sản văn hóa và hệ ứng xử văn hóa của cộng đồng người.
Hệ giá trị xã hội là một thành tố cốt lõi làm nên bản sắc riêng của một cộng đồng xã hội, nó có khả năng chi phối đời sống tâm lý và một họat động của những con người sống trong cộng đồng xã hội ấy" [64; tr. Tóm lại, hoạt động sáng tạo văn hóa vật chất và tinh thần của con người là nhằm hình thành nên các giá trị văn hóa để từ đó cộng đồng người nói chung và mỗi con người nói riêng soi vào nó để chiêm nghiệm, đối chiếu và phấn đấu để đạt được những chuẩn mực giá trị cần thiết mà mỗi cá nhân, gia đình, xã hội đòi hỏi. Vì vậy, có thể hiểu: Văn hóa là quá trình vận động đặc biệt làm biến đổi liên tục và sâu sắc đến năng lực sáng tạo của cá nhân và cộng đồng nhằm ngày càng hoàn thiện nhân cách và xã hội, vươn tới sự thống nhất cao giữa mỗi cá nhân - gia đình - cộng đồng làng xã và toàn xã hội vì sự tồn tại và phát triển tiến bộ của con người và xã hội. Đồng thời, văn hóa không phải là một lĩnh vực riêng biệt.
Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra. Văn hóa là chìa khóa của sự phát triển. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể 1.
Di sản văn hóa vật thể Là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học bao gồm cả di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia. Di sản văn hóa phi vật thể Theo Khoản 1 Điều 2 Mục 1 Công ước bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESSCO năm 2003 đã ghi nhận “Di sản văn hóa phi vật thể được hiểu là các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kĩ năng và kèm theo đó là những công cụ đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng, các nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân, công nhận một phần di sản văn hóa là của họ. Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, di sản văn hóa phi vật thể được các cộng đồng, các nhóm người không ngừng tái tạo để thích nghi với môi trường và quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người ”. Theo khái niệm này ta có thể hiểu văn hóa phi vật thể là sự gắn bó chặt chẽ về đời sống tinh thần trong mỗi cộng đồng.
Nó được lưu truyền, tái tạo để tạo nên bản sắc của mỗi cộng đồng và sự đa dạng văn hóa trên thế giới. Chúng ta tiếp thu quan điểm văn hóa phi vật thể của UNESSCO, tại Điều 1 của Luật di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009): “Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với mỗi cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện sâu sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, diễn trình và các hình thức khác” [44; tr. Ở khái niệm này 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com không liệt kê các hình thức của di sản văn hóa phi vật thể nhưng đến Nghị định số 98/2010/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 21/9/2010 quy định chi tiết một số điều của Luật đã được sửa đổi và bổ sung, cụ thể hóa các hình thức biểu hiện của di sản văn hóa phi vật thể: Tiếng nói chữ viết; Ngữ văn dân gian; Nghệ thuật trình diễn dân gian; Tập quán xã hội và tín ngưỡng; Lễ hội truyền thống; Nghề thủ công truyền thống; tri thức dân gian. Khái niệm không gian văn hóa Theo quan điểm của GS.
Ngô Đức Thịnh, không gian văn hóa được hiểu theo hai nghĩa: Cụ thể và trừu tượng. Theo nghĩa cụ thể: “Không gian văn hóa là không gian địa lý xác định, mà ở đó một hiện tượng hay một tổ hợp hiện tượng văn hóa nảy sinh, tồn tại, biến đổi và chúng liên kết với nhau như một hệ thống. Trong đời sống xã hội của con người, ít khi một hiện tượng văn hóa nảy sinh, tồn tại và biến đổi một cách độc lập, mà chúng thường liên kết với nhau thành những tổ hợp. Có thể hiểu tổ hợp văn hóa như một hệ thống lớn nhỏ khác nhau, bao gồm nhiều hiện tượng liên kết với nhau như một thực thể hữu cơ… Với ý nghĩa như vậy, văn hóa tín ngưỡng tôn giáo, văn hóa vùng, văn hóa làng, văn hóa nghề nghiệp, văn hóa đô thị, văn hóa nông thôn… đều là những dạng khác nhau của tổ hợp văn hóa.6] Theo nghĩa trừu tượng: “Không gian văn hóa là một “trường” để chỉ một hiện tượng hay tổ hợp các hiện tượng (một nền văn hóa của tộc người, quốc gia hay khu vực) có khả năng tiếp nhận và lan tỏa (ảnh hưởng), tạo cho nền văn hóa đó một không gian (trường) văn hóa rộng hay hẹp khác nhau.” Như vậy, ta có thể hiểu không gian văn hóa như một tổ hợp văn hóa, được cấu thành từ nhiều nhân tố, được hiểu cụ thể hơn thông qua các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể ở trong không gian ấy.
Đồng thời ở đó có sự giao thoa, tiếp xúc giữa không gian văn hóa này với không gian văn hóa 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khác và giữa nền văn hóa bản địa và văn hóa ngoại sinh để hình thành nên một nền văn hóa riêng. Không gian văn hóa làng Tam Á chính là không gian để người Tam Á tồn tại và phát triển. Làng Tam Á có không gian vị trí, địa lý xác định, có nền kinh tế - xã hội ổn định, có quá trình lịch sử lâu dài, có truyền thống yêu nước nồng nàn, có đặc trưng văn hóa riêng trên cơ sở giao lưu tiếp xúc với các nền văn hóa khác. Lý luận về văn hóa làng và làng văn hóa 1.
Khái niệm về làng và làng văn hóa * Khái niệm về làng Trong đời sống xã hội Việt Nam cổ truyền, "làng xã có vị trí hết sức đặc biệt: làng là đơn vị cơ bản hình thành quốc gia dân tộc. Nước (quốc gia) chỉ là tổng số, là kết quả của sự liên kết các làng, xã, là "liên làng", "siêu làng". Làng có vai trò gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc. Làng là nhân tố giữ vai trò quyết định trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc "còn làng thì còn nước” [15; tr.
Phan Đại Doãn: “Làng là một cộng đồng dân cư tự nhiên được tập hợp theo quan hệ huyết thống, quan hệ địa vực, quan hệ nghề nghiệp…” [10; tr 18-19.] Theo Bùi Xuân Đính: “Làng là đơn vị tụ cư truyền thống của người nông dân Việt, có địa vực riêng, cơ cấu tổ chức, cơ sở hạ tầng, các tục lệ (về cheo cưới, tang ma, khao vọng) thờ cúng riêng, tâm lý tính cách riêng và cả “thổ ngữ” (tiếng làng) riêng, hoàn chỉnh và tương đối ổn định trong quá trình lịch sử” [14; tr. Theo Từ điển văn hóa cổ truyền Việt Nam, làng là tiếng cổ của Việt Nam dùng để chỉ đơn vị tụ cư của người Việt có từ lâu đời.