CHƯƠNG 1 VAIL NET VE CUQC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP. SÁNG TÁC CỦA NHÀ VĂN TRANG THÊ HY 1. CUỘC ĐỜI Nhà văn xứ dừa Trang Thế Hy tên thật là Võ Trọng Cảnh, ngoài ra còn có các bút danh khác như: Văn Phụng Mỹ, Vũ Ái, Triều Phong, Phạm Võ, Van Minh Phẩm.Ông sinh ngày 9 tháng 10 năm 1924 tại xã Hữu Định, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Lúc nhỏ, ông học tiểu học ở huyện nhà, sau đó lên học trường Trung học Mỹ Tho.
Năm 1940, Võ Trọng Cảnh rời trường lên Sài Gòn kiếm sống. thời gian này ông làm kiểm soát viên cho công ty xe điện Đông Dương chạy tuyến Sài Gòn - Chợ Lớn, sau đó làm trợ lý kế toán cho một công ty cao su trên Bến Củi - Tây Ninh, rồi dạy kèm, làm thủ kho. Học vấn dang dở nhưng. người thanh niên ấy lại có địp được biết thêm nhiều kiến thức từ trường đời, từ cuộc sống vất vả mà ban thân đã trải nghiệm.
Không ngờ đây lại là vốn sống đáng quý đưa đến cho Trang Thể Hy những trang văn ngồn ngột hơi thở đời sống sau này. “Thời điểm chín muỗi của cách mạng tháng Tám 1945 cũng là lúc anh thanh niên Võ Trong Cảnh bước vào tuổi trưởng thành. Cũng giống như bao người con đất Việt mang trong mình đòng máu yêu nưc chí căm thù giặc, 'Võ Trọng Cảnh về lại Bến Tre tham gia cướp chính quyền. Sau đó, anh tích cực tham gia mọi sinh hoạt của tô chức đoàn thể ở địa phương và bắt đầu.
công tác tại Ty Thông tin tuyên truyền tỉnh Bến Tre. Duyên văn chương đến với Trang Thế Hy từ đây, khi anh có ý nghĩ dùng ngòi bút để làm vũ khí tuyên truyền cách mạng. Khoảng năm 1951, Võ Trọng Cảnh được chuyển về Sở Thông tin Nam. Bộ, rồi Ty Thông tin Cần Thơ và làm ở đó cho đến ngày ký kết hiệp định Giơnevơ.
Thời gian này, anh làm một số bài thơ đăng ở Phân hội văn nghệ kháng chiến tỉnh Bến Tre. Bài thơ Thanh gươm tháng Tám viết ở giai đoạn này ký tên Song Diệp đăng ở mục phụ trương báo Đảng (năm 1954) được xem là tác phẩm đầu tiên trong sự nghiệp cầm bút của Trang Thế Hy. Sau năm 1954, trong hoàn cảnh mới của đất nước, nhiều người chọn nguyện vọng tập kết ra Bắc còn Võ Trọng Cảnh được phân công ở lại miền. Năm 1956, theo kế hoạch điều chuyển cán bộ của tổ chức, Võ Trọng.
Cảnh về sống và hoạt động ở nội thành Sài Gòn trên lĩnh vực văn nghệ. Anh phải tự làm nhiều nghề như phụ xe, giữ kho, dạy kèm học trò, làm thư ký. hãng buôn, kế toán, sửa bản in cho các báo. vừa để sống vừa có vỏ bọc hợp pháp để hoạt động.
Công việc không ôn định, lại phải lên tục thay đổi chỗ ở để lần tránh sự truy xét của chính quyền Sài Gòn. nhưng phải chăng. đó lại là cơ may ? Phải làm nhiều nghề để tồn tại nhưng vốn kiến thức ít ỏi của một người chưa học hết bậc trung học khiến Võ Trọng Cảnh gặp không ít khó khăn. Điều đó đã thôi thúc chàng trai trẻ tự học để nâng cao vốn hiểu biết cơ bản và trình độ ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Pháp.
Tinh thần ham học đã đưa anh đến. với văn học thế giới, “gặp gỡ” nhiều nhà văn lớn như Gorki, Lỗ Tấn, Heminway. Cũng từ đây, Võ Trọng Cảnh tự tin thể nghiệm ngòi bút của lình. Anh cộng tác với các tờ báo Vi Sóng, Bách Khoa và là cây viết chủ chốt của Nhấn Loại.
Trên các tờ báo này, những tác phẩm đầu tay của Võ Trọng Cảnh lần lượt ra đời dưới nhiều bút danh khác nhau: Văn Phụng Mĩ, Phạm Võ. và thu hút sự chú ý của người đọc thành thị miền Nam lúc bấy giờ. Bút danh Trang Thế Hy cũng được ông chính thức sử dụng trong thời gian này (năm 1959), Năm 1962, do những tác phẩm mang nội dung yêu nước nên Trang Thế Hy bị bắt giam. Một năm sau ra tù, ông lại tiếp tục hoạt động văn nghệ báo.
Năm 1964, ông ra vùng giải phóng, làm việc ở Ban Tuyên Huấn đặc khu Sài Gòn ~ Gia Dinh khoảng 10 năm, sau đó chuyển sang Tiêu ban Văn nghệ giải phóng cho đến ngày thống nhất đất nước. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Trang Thể Hy về sống và làm. việc tại thành phố Hồ Chí Minh. Khoảng 15 năm sống ở đây, ông là cán bộ.
Hội Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời là Biên tập viên Văn tại tuần báo Văn nghệ thành phổ Hỏ Chí Minh 'Từ năm 1992, với lý do “đi chỗ khác chơi”, Trang Thể Hy rời thành phố. Hé Chi Minh ~ nơi ông đã sống và gắn bó nhiều năm, trở về quê nhà Bến Tre. và sống ở đó cho đến nay. Nhiều người cho rằng đây là sự lựa chọn hợp lý, nhà văn biết “xuất xử đúng thời” khi biết mình ở tuổi “cổ lai hy”, có người thấy được nhân cách đáng trân trọng của ông.
Với nhà văn Trang Thế Hy thì chỉ đơn giản là vì “khi nào biết mình hết viết được rồi thì phải đi chỗ khác chơi, đừng bẹo hình beo dang ở chỗ trường văn trận bút và tuyệt đối đừng để những người hâm mộ mình đọc những câu lếu láo” [14, tr441]. Ông quả là người có quan niệm và nhân cách đáng quý ! "Vậy là, sau gin S0 năm tham gia hoạt động cách mạng, chàng thanh niên rời làng quê mang trong mình khí thể tranh đấu sục sôi nay lại trở về quê nhà, sống cuộc sống dịu êm trong căn nhà của một khu vườn không nhiễu cây trái. "Ngày ngày, ông đọc sách, uống trả, dâm đạo văn chương với nhiều bạn văn gần xa ghé thăm. Cuộc sống trong căn nhà ấy dường như trôi đi rất chậm, tưởng như buôn tẻ nhưng nó lại vẫn luôn ăm ắp tình người, trăn trở với nỗi đau thể sự xoay vần, đau đáu nỗi lo về người này kẻ kỉa trên làng văn trận bút Cả cuộc đời Trang Thế Hy, sống cũng như viết: kín đáo, lặng lẽ, khiêm.
Bề ngoài ông có vẻ ít nói, biếng cười, lại thêm chút gì đó nghiêm nghị, thế nhưng ít ai biết được ấn chứa bên trong con người này là một tâm hồn. hóm hinh và thông thái. Ông hiểu biết nhiều, có vốn kiến thức sâu rộng về văn hoá, văn học thế giới đặc biệt là văn học Pháp. Những tác phẩm của Anatole Trance, Anphose Daudet, Lỗ Tắn, Heminway,.
ông đều đã đọc qua thậm chí nhớ r từng câu chữ.Tiếp xúc với nhà văn nhiều người thấy rằng, con người này có gương mặt, dáng dấp giống nhà hiển triết nhưng giọng nói của ông lại ấm áp, mê đắm của một người nghệ sĩ. Nhìn con người ông vẫn. toát lên một vé gi dé thật sự nho nhã, nên nếp khác biệt với người khác. Trang Thế Hy giống như một nốt luyến âm nhạc làm giàu có thêm đời sống vốn nhiều thanh điệu.
Trang Thể Hy thực sự là “một người cằm bút vừa có Nho học vừa có. Tây học uyên thâm”, “một cái bền rất rộng, rất sâu, rất vững chắc” đẳng sau. Ay vây nhưng cả cuộc đời nhà văn viết rất tít lắm và theo ông thì đó là vì: tạo hoá nhễu cho vài giọt năng khiếu viết lách nhưng bản thân không. phải là người có ý chí mạnh và thiếu đam mê nên sự thành đạt không đáng kể.
Thực ra đó là sự khiêm nhường, “cái khiêm nhường của người biết rit nhiều, chỉ người biết rất nhiều mới có được” [14, tr. Có lẽ chính điều này mà bạn đọc nhiều thế hệ quý trọng nhà văn Trang. Thế Hy không chỉ ở tải năng mà hơn hết là nhân cách. Nhiều người trân trong sọi ông là "cây cỗ thụ”, "bậc kỳ lão”, là "người hiển” của văn học Nam Bộ, 'Cội nguồn của những tình cảm này không chỉ là sự quý mến mà còn là thái độ khâm phục đối với nhà văn.
Giờ đây, những bước chân của chú Tư Sâm đã có phần nặng nhọc nhưng con người này vẫn giữ được sự tinh anh và thâm thuý. Ngày ngày, ông, vẫn dành thời gian để đọc sách va doi theo những trang viết của những cây bút trẻ. Có thể nói, cái đẹp và cái thiện vẫn hiện hữu ở nhà văn này ngay cả những ngày thường lặng lề. Đôi lúc, ông cũng làm thơ rồi ngồi ngẫm nghĩ về đời.
Sáng ngày 28 tháng 5 năm 2010, Hội Văn học Nghệ thuật Nguyễn Đình Chiểu đã nhất trí đề xuất nhà văn Trang Thế Hy là chủ tịch danh dự trọn đời của Hội. Điều này một lần nữa khẳng định tài năng, nhân cách của nhà văn Trang Thế Hy. SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC 1. Những chặng đường sáng tác Quá trình sáng tác của ông có thể chia làm hai giai đoạn: trước và sau 1975 Trước 1975, Trang Thế Hy cộng tác với nhiều tờ báo như J Sống, Bách Khoa,.và là một trong những cây bút nòng cốt của tờ A/kẩn roại.
Sức sáng tạo của ông trong giai đoạn này thật đáng nể. Với những bút danh khác. nhau như Văn Phụng Mỹ, Võ Trọng Cảnh, Phạm Võ, Văn Minh Phẩm, Trang Thế Hy. ông liên tục xuất hiện trên hẳu hết các số báo và cho ra đời hàng.
loạt tác phẩm: áo lựa giằng (1957), Nắng đẹp miền quê ngoại (1957), Mỹ Thơ. Bởi thế, tác phẩm của ông nằm trong vùng địch kiểm soát nhưng vẫn theo chiều hướng đề cao kháng chiến, chống lại sự đô hộ của Mỹ, một lòng hướng về “quê hương đất nude. Than phan bi dat của những người dân lương thiện trước dục vọng và bom đạn kẻ thù, những mặt trái của xã hội Sải Gòn đang trượt đài trên lối sống vật chất cũng được nhà văn đề cập trong các sáng tác giai đoạn này. Không nằm ngoài mong muốn, tác phẩm của ông đã tác động sâu.
sắc đến tư tưởng người đọc thành thị miễn Nam. Sau năm 1975, là giai đoạn sáng tác mới, rất có chất lượng của Trang Thế Hy. Vốn văn hoá, văn học uyên thâm, nay lại được trải nghiệm nhiều trong cuộc sống nên ngòi bút của ông đạt được độ “tỉnh” ở chiều sâu. Có thể kể đến những tác phẩm: No nước mắt (1971), Một nghệ sĩ (1980), Sách và chim (1980), Bà mẹ già và thúng khổ qua (1982), Những người lắp hồ bom.
(1983) Một nghệ sĩ (1984), Con méo hoang và nhà thơ có gia cứ (1987), VỀ nhà trước cơn mưa (1988), Vét thương thứ mười ba (1988), Chút hào quang từ mảnh vỡ của một ngôi sao buôn (1989), Tiếng hát và tiếng khóc (1990) “Người bào chế thuốc giảm đau (1990), Rác và hoa (1993), Hai người nhìn mưa.